Phía trước là chân trời

Archive for Tháng Một, 2014

Rộn ràng đón xuân

Posted by thaidung1611 trên 14/01/2014

Image

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Cảm nhận của em về phần 2 của bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi

Posted by thaidung1611 trên 11/01/2014

Cảm nhận của em về phần 2 bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi  

                   ( Tội ác tày trời của giặc)

A/ Mở bài

 Sau thời gian cầm cự và tạm hoà hõan, từ năm 1424, Lê Lợi đã chuyển sang thời kì  tổng phản công. Đến cuối năm 1427, khi 15 vạn quân tiếp viện của giặc tan tành, buộc Vương Thông phải giảng hoà. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã kết thúc thắng lợi. Đất nước ta bước vào thời kì mới. Trong không khí tưng bừng của toàn dân tộc đón mừng xuân chiến thắng, đầu năm 1428 Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi thảo bài Cáo này để tuyên bố với nhân dân cả nước biết : Cuộc kháng Minh đã thành công rực rỡ, đất nước trở lại thanh bình.

B/ Thân bài :

Yêu nước và căm thù giặc là hai mặt của một vấn đề. Vì yêu nước cho nên mới căm thù giặc. Ở bài Cáo này, với lòng uất hận dâng trào, Nguyễn Trãi đã thay mặt nhân dân ta viết nên một bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Minh. Mà trước hết,

_ ông vạch trần âm mưu xâm lược xảo trá của chúng :

                                  Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

                                  Để trong nước lòng dân oán hận

                                  Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ

                                  Bọn gian ta còn bán nước cầu vinh

Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Và những cải cách của Hồ Quí Li lúc đó về chủ trương mà nói là có tiến bộ. Nhưng chưa được toàn dân hiểu rõ, lại bị bọn cựu quí tộc nhà Trần phản ứng, xuyên tạc. Cho nên mới có hiện tượng “phiền hà”, mới có “oán hận”. Những hiện tượng ấy tạo điều kiện cho bọn phản động đang tâm bán nước cầu vinh. Sự thâm hiểm của “quân cuồng Minh” là ở chỗ chúng khoét sâu thêm mâu thuẫn trong nội bộ các tập đoàn phong kiến.Thừa cơ lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, mượn gió bẻ măng để thôn tính nước ta.

  Những từ “nhân”, “thừa cơ” trong bản dịch đã góp phần vạch trần luận điệu giả nhân giả nghĩa của giặc

Âm mưu của giặc thật xảo quyệt,

_ chính sách cai trị của chúng lại càng thâm độc hơn

Điều đáng lưu ý là khi vạch rõ âm mưu xâm lược của giặc, Nguyễn Trãi đứng trên lập trường dân tộc nhưng khi tố cáo chính sách cai trị thâm độc và tội ác của giặc thì ông lại chủ yếu đứng trên lập trường nhân bản. Mà trước hết đó là

+ Tội ác huỷ hoại cuộc sống con người bằng hành động diệt chủng

                      Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

                      Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vại

                         …

                       Nheo nhọc thay kẻ goá bụa khốn cùng

+ Tội ác huỷ diệt môi trường sống

                                   Nặng thuế khoá sạch không đầm núi

                                                      …

                                    Tàn hai cả giống côn trùng cỏ cây

Những hình ảnh trên không chỉ là một ẩn dụ mà chính là hiện thực đau thương. Trong hai mươi năm đô hộ (1407 – 1427) giặc Minh đã thiết lập 1 bộ máy thống trị quân sự và dựng lên những hình phạt cực kì dã man : như rút ruột người treo lên cây, nấu thịt người  lấy dầu thắp đèn cho lính, phanh thây người đàn bà có mang làm 2 mảnh, chất thây người làm mồ kỉ niệm…

       Và những tội các ấy được tác giả khái quát cô động qua những hình tượng trên (nướng dân đen vùi con đỏ),góp phần diễn tả chân thực sâu sắc tội ác man rợ kiểu trung cổ của giặc. Đồng thời nó cũng như một tấm bia khắc sâu lòng căm thù để muôn đời còn nguyền rủa không chỉ giặc Minh mà là tất cả kẻ nào gây ra những tội ác tương tự

Không chi nghiêm hình mà còn hết sức nặng thuế

+ Nặng thuế khoá, đục khoét cao độ đời sống của nhân dân

                        Người bị ép xuống biển , dòng lung mò ngọc

                             …

                         Nhiễu nhân dân bắt bẫy hươu đenn nơi nơi cạm đặt

        Đoạn văn trên mang tính hiện thực sâu sắc.

Quả vây giặc Minh đã áp dụng những thủ đoạn đục khoét cao độ. Nào bắt khai mỏ, bắt nộp vàng bạc ngà voi sừng tê, ngọc trai, nào bắt tìm những thứ đặc biệt như hươu trắng, voi trắng, vượn trắng. Chưa nói đến việc tăng các loại thuế khiến cho nhân dân ta bị phá sản về nông nghiệp cũng như thủ công nghiệp.Chúng bắt lính, bắt phu, bắt phụ nũ làm tì thiếp, nhi đồng làm gia nô. Độc ác hơn là một số trẻ em được huấn luyện làm việt gian rồi thả về phá hoại Tổ Quốc.

Âm mưu, chủ trương của chúng đâu chỉ đơn thuần là là cướp bóc là vơ vét. Mà chủ trương cai trị của chúng là tiêu diệt con người, tiêu diệt cuộc sống ở chính mảnh đất này. Nên

_ Dưới nanh vuốt của quân thù , người vật cỏ cây đều tan tác

Quả thực, đọc bài Cáo chúng ta thấy hiện lên hình ảnh người dân vô tội tình cảnh bi đát đến cùng cực, không còn con đường sống. Cái chết đợi họ trên rừng, cái chết đợi họ ở dưới biển, “chốn chốn lưới giăng”, “nơi nơi cạm đặt”

Đối lập với tình cảnh người dân vô tội là

_ Bộ mặt của kẻ thù xâm lược

 Lũ quỷ sứ phương Bắc đang hoành hành trên xương máu, nước mắt, trên tính mạng và tài sản của nhân dân ta : “Thằng há miệng đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”

Phải chăng tác giả đang dùng ngòi bút hài hước để vẽ nên bộ mặt kẻ thù ? Không ! Mà chính ở đây,

         Tác giả đã dùng nét bút hiện thực, không thêm bớt, không tô vẽ để lột tả bộ mặt thật của giặc Minh : Chúng là lũ quỷ không chỉ khát vàng mà còn khát máu.

Âm mưu của chúng “đủ muôn nghìn kế”. Việc làm của chúng “dối trời lừa dân”, là “bại nhân nghĩa nát cả đất trời.”Tội ác chất cao như núi kết thành một khối căm hờn

                          Độc ác thay, trúc Lam Sơn không ghi hết tội

                          Nhơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa hết mùi

          Nguyễn Trãi đã kết thúc bản cáo trạng bằng câu văn cảm thán cất lên như một lời nguyền, chất chứa căm hờn oán giận. Với nghệ thuật thậm xưng, tác giả lấy cái vô hạn (trúc Lam Sơn) để nói cái vô hạn (tội ác của giặc), dùng cái vô cùng (nước Đông Hải ) để nói cái vô cùng (sự nhơ bẩn của kẻ thù)

Đọc bản cáo trạng tội ác của giặc trong bài Cáo, lòng ta khi uất hận trào sôi, khi cảm thương tha thiết, lúc muốn thét thật to, lúc nghẹn ngào tấm tức…Quả là ngòi bút thần cua Nguyễn Trãi đã trong cùng một lúc diễn tả được những biểu hiện khác nhau nhưng luôn gắn bó với nhau trong tâm trạng, tình cảm con người.

Không phải ngẫu nhiên trong 12 cặp câu văn biền ngẫu, tác giả đã trực tiếp nói đến dân 10 lần, gián tiếp 2 lần. Nửa tổng số câu nói đến dân, các câu còn lại đều nêu nên khía cạnh này hay khía cạnh khác về cuộc đời đau khổ của nhân dân do tội ác của kẻ thù gây ra.

→     Và như thế tác giả đã đứng trên lập trường nhân bản, hơn nữa đứng về quyền sống của người dân vô tội để tố cáo, lên án giặc Minh.

Nếu ở Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn mới có dịp đề cập đến hình tượng quí tộc và tướng sĩ thì ở bài Cáo, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã đặc biệt chú ý quyền sống nhân dân và thể hiện nó với nguồn cảm hứng mạnh mẽ hùng tráng. Đây là điểm rất đáng quí trong nội dung bài Cáo và cũng là một bước tiến quan trọng trong quan điểm nhân dân của văn học quá khứ.

Phản nhân đạo, phản tiến hoá, tội ác giặc Minh trời không dung đất không tha, thần người căm giận. Chính vì vậy mà bão tố khởi nghĩa đã nỗi lên. Và trước sau, thời nào cũng vậy, toàn thắng ắt về ta.

C/ Kết luận

 

 

 

 

Posted in Không phân loại | 3 Comments »

Cảm nhận của em về phần 1 của bài Đại cáo bình Ngô

Posted by thaidung1611 trên 11/01/2014

Cảm nhận của em về phần 1 bài Bình Ngô đại cáo của Nguyến Trãi

                              (Lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến) 

 

A/ Mở bài

 Sau thời gian cầm cự và tạm hoà hõan, từ năm 1424, Lê Lợi đã chuyển sang thời kì  tổng phản công. Đến cuối năm 1427, khi 15 vạn quân tiếp viện của giặc tan tành, buộc Vương Thông phải giảng hoà. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã kết thúc thắng lợi. Đất nước ta bước vào thời kì mới. Trong không khí tưng bừng của toàn dân tộc đón mừng xuân chiến thắng, đầu năm 1428 Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi thảo bài Cáo này để tuyên bố với nhân dân cả nước biết : Cuộc kháng Minh đã thành công rực rỡ, đất nước trở lại thanh bình.

B/ Thân bài

a/ Mở đầu bài Cáo , tác giả khẳng định lập trường chính nghĩa của ta trên cơ sở đạo lý:

                           Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

                           Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Nhân nghĩa  là quan niệm tư tưởng nhân sinh của Nho giáo. Nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí

 Và cũng theo quan niệm của nho giáo, nhân nghĩa là cái gốc của sự việc. Trong thư số 8 trả lời Phương Chính, Nguyễn Trãi cũng đã từng nói : “Phàm mưu đồ việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, làm nên công lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu”

Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến trong bài Cáo là “cốt ở yên dân”. Và vì thế muốn thực hiện được nó ta phải “trước lo trừ bạo”

  Bằng hai câu mở đầu, không chỉ nêu nên tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi còn nhấn mạnh mục đích  và phương tiên để thực hiện tư tưởng nhân nghĩa đó.  Nhân nghĩa phải biết tiêu trừ tham tàn bạo ngược, bảo vệ cuộc sống yên ổn cho nhân dân.

Nhân nghĩa mà tác giả nói tới là nhân nghĩa chân chính, chứ không phải giả nhân giả nghĩa như bọn giặc vẫn huênh hoang

  Và cũng bằng cách vào đề lý luận khái quát, tác giả đã gây được không khí trang trọng thích hợp cho bài cáo và đồng thời xác định rõ lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến

Dân tộc ta chiến đấu chống xâm lược là nhân nghĩa là phù hợp với đạo lí của thời đại thì sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc Việt Nam là một chân lí khách quan

Sau khi khẳng định lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến về mặt đạo lý, Nguyễn Trãi tiếp tục khẳng định tính thực tế của đạo lí đó qua

b/truyền thống đấu tranh cuả dân tộc ta

*/ Mà trước hết ông khẳng định sự tồn tại của nước Đại Việt như một chân lý khách quan: 

                                                             Như nước Đại Việt ta từ trước

                                                             Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

                                                             Sông núi bờ cõi đã chia

                                                             Phong tục Bắc Nam cũng khác

Nền văn hoá Đại Việt, nền văn hoá Thăng Long được hình thành, xây dựng và phát triển qua một quá trình lịch sử “đã lâu”, đã có “từ trước” đằng đẵng mấy nghìn năm. Đại Việt Không chỉ có lãnh thổ chủ quyền “sông núi bờ cõi”, mà còn có thuần phong mỹ tục mang bản sức riêng, có lịch sử riêng, chế độ riêng “bao đời gây nền độc lập”, đã từng “xưng đế một phương, có nhiều nhân tài hào kiệt…

Khác với ý trong bài Hịch, Tổ Quốc ở đây không phải được hình dung bằng thái ấp, bổng lộc, gia quyến, vợ con, tông miếu phần mộ… mà với Nguyễn Trãi, Tổ Quốc được định nghĩa bằng những khái niệm trừu tượng được rằng nước ta là một nước có cương vực lãnh thổ, có quá trình độc lập, có quốc hiệu, có văn hoá phong tục chứ không phải là một quận, một huyện của Trung Quốc, cũng không phải là một bộ lạc man di mọi rợ

  Đến đây, giọng điệu câu văn ngắn gọn, khoẻ, chắc, cách lập luận chặt chẽ như một lời tuyên bố đanh thép, tác giả đã nêu bật được sự tồn tại của một quốc gia nhỏ bé bên cạnh một quốc gia lớn trong không gian, thời gian, với truyền thống đấu tranh anh dung của nó.

Từ xa xưa chính sách đồng hoá của phong kiến Trung Quốc nhất là bọn giặc Minh rất hiểm độc. Chúng bắt nhân dân ta theo phong tục Trung Quốc, ăn mặc kiểu Trung Quốc, để tóc kiểu Trung Quốc, bó chân kiểu Trung Quốc, hòng làm cho ý thức dân tộc ta bị tiêu vong. Nhưng dân tộc ta vẫn tồn tại vì

*/ truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất của dân tộc :

                                 Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời gây nền độc lập

                                 Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

                                 Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

                                 Song hào kiệt đời nào cũng có

Dân tộc ta có một lịch sử chiến đấu oanh liệt, có thể sánh ngang với Trung Quốc. Những chiến công của anh hùng dân tộc ta như Ngô Quyền, Hưng Đạo còn ghi trong sử sách, những trận Bạch Đằng, Hàm Tử được muôn đời ca ngợi. Hãy xem : Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đô bị giết tươi, Ô Mã bị bắt sống. Đâu có phải là lời nói suông. Đó là một thực tế khách quan.

Và với lối diễn đạt sóng đôi tương phản, tác giả đã khẳng định được truyền thống đấu tranh cũng như tư thế độc lập tự cường của dân tộc ta.

Ta nói đến truyền thống dân tộc để ta tự tin, giặc nghe để chúng kinh hoàng. Quả vậy, dân tộc ta chẳng những đã phát huy thắng lợi trong việc đấu tranh chống phong kiến Trung Quốc , mà còn tiếp tục đấu tranh đánh đổ ách thực dân Phá, Nhật, Mỹ xâm lược. Và trước sau, thời nào cũng vậy, toàn thắng ắt về ta.

C/ Kết luận

 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »