Phía trước là chân trời

Archive for Tháng Tư, 2014

Chị em !

Posted by thaidung1611 trên 27/04/2014

gửi-em-thủy

Advertisements

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Ngủ đi em

Posted by thaidung1611 trên 23/04/2014

Khuya lắm rồi sao em còn chưa ngủ

Trằn trọc băn khoăn lo nghĩ điều gì

Chuyện con cái xin từ từ rồi tính

Sắp sáng rồi thôi đi ngủ em ơi

ngủ-đi-em

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Chúc mừng sinh nhật anh Giao

Posted by thaidung1611 trên 20/04/2014

SN-anh-Giao

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Cảm nhận của em về đoạn thơ “Trong anh… muôn đời” trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

Posted by thaidung1611 trên 18/04/2014

Cảm nhận của em về đọan thơ sau đây trong đọan trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm  :

“ Trong anh và em hôm nay,                              Con sẽ mang đất nước đi xa

Đều có một phần Đất Nước                                Đến những tháng ngày thơ mộng

Khi hai đứa cầm tay                                            Em ơi em Đất Nước là máu xương máu của minh

Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm      Phải biết gắn bó và san sẻ   

Khi chúng ta cầm tay mọi người                        Phải biết gắn bó và san sẻ

Đất nước vẹn trọn to lớn                                    Phải biêt hóa thân cho dáng hình xứ sở

Mai này con ta lớn khôn                                     Làm nên đất nước muôn đời”

                                 (Đất Nước trích Mặt đường khát vọng) 

I/ MỞ BÀI

_ Đất Nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận và cách thể hiện riêng

_ Nếu như các nhà thơ cùng thời thường cảm nhận về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay qua các triều đại phong kiến thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi,  bình dị : Đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại.

Với tư tưởng ấy nhà thơ  gửi  lời nhắn nhủ tâm tình về sự gắn bó và tráchnhiệm của mỗi người với đất nước :

 Trong anh và em hôm nay …

   … Làm nê“ n đất nước muôn đời”

                 (Đất Nước trích Mặt đường khát vọng)

II. THÂN BÀI 

1/ (Xuất xứ chủ đề)

_ Mặt đường khát vọng được Nguyễn khoa Điềm hình thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974.

_ Thời điểm này miền Nam bị tạm chiến, đế quốc Mĩ và bọn tay sai ra sức chống phá cách mạng, lôi kéo mua chuộc thanh niên vào chốn ăn chơi mà quên đi trách nhiệm với đất nước.

_ Đoạn trích Đất Nước (trích chương V của trường ca Mặt đường khát vọng) ra đời đã đánh thức tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

2/ (khái quát ý đoạn thơ trước)

Để làm được điều đó, Nguyễn Khoa Điềm không chỉ giúp thế hệ trẻ cảm nhận đất nước từ các phương diện lịch sử, địa lý và cả bề dày văn hoá dân tộc , mà nhà thơ còn giúp họ suy nghĩ về đất nước từ cuộc sống hiện tại trong các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng, sự tiếp nối giữa các thế hệ

3/ (phân tích chi tiết)

a/ Khổ thơ mở đầu bằng một lời khẳng định:

Trong anh và em hôm nay 

Đều có một phần Đất Nước 

_ Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, tổ quốc, dân tộc… luôn là những khái niệm trừu tượng.

Nhưng với nhà thơ trẻ đang đôi mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết.

Điều này không mới,bởi  trong ca dao, dân ca có không ít những câu hát như thế: 

Anh đi anh nhớ quê nhà 

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương 

Nhớ ai dãi nắng dầm sương 

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. 

Quê hương là tất cả những gì gắn bó ruột rà với con người. Đó là nơi ta yêu tha thiết. Đó là buổi sáng làm đồng. Đó là từng miếng ăn quê kiểng mỗi ngày… 

_ Song, cái mới của khổ thơ là Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện ra Đất Nước có trong mỗi một con người, ngay ở trong ta : Trong anh và em … Đất Nước

Mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của đất nước. Nên dù anh và em chỉ là một phần nhỏ của đất nước nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó yêu thương và tự hào

    – Từ việc khẳng định: đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của mỗi người,nhà thơ tiếp tục suy nghi về

b/ mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi người với đất nước bằng những dòng thơ giàu chất chính luận :

                                      “Khi hai đứa cầm tay

                                       Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm

                                       Khi chúng ta cầm tay mọi người

                                       Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.

Khi hai đứa cầm tay mọi người có nghĩa là ta biết yêu thương nhau, biết sống đoàn kết với nhau thì đất nước ấy là đất nước nghĩa tình chung thủy. Đất nước ấy sẽ trưởng thành lớn mạnh không ngừng.

_ Bốn dòng thơ được kết cấu thành 2 câu điều kiện kết quả, kết hợp với các tính từ “hài hòa, nồng thắm”; “vẹn tròn, to lớn”, nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc bức thông điệp: đất nước là sự gắn bó máu thịt giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng.  

Trên cơ sở mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân, giữa tình yêu cá nhân với tình yêu lớn của đất nước,

 c/ nhà thơ tiếp tục suy nghĩ về đất nước ở tương lai: 

        “Mai này con ta lớn lên

          Con sẽ mang Đất Nước đi xa

          Đến những tháng ngày mơ mộng”

_ Ba dòng thơ đã mở ra một tầng ý nghĩa mới, đó là niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước.Thế hệ sau “con ta lớn lên sẽ mang Đất Nước đi xa- Đến những tháng ngày mơ mộng”.Đất nước sẽ đẹp hơn, những tháng ngày mơ mộng ở hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở ngày mai.

d/ Những câu thơ cuối, nhà thơ nêu lên trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước 

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình 

Phải biết gắn bó và san sẻ 

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở 

Làm nên Đất Nước muôn đời… 

_ Đất nước là máu xương của mình à với sự so sánh sinh động này, nhà thơ  đã làm nổi bật đất nước tồn tại như một sự sống. Và để có sự sống ấy biết bao con người, bao thế hệ đã ngã xuống . Vì thế, mỗi một con người phải biết gắn bó, san sẻ và cao hơn nữa là hoá thân dâng hiến để làm sao có được đất nước muôn đời! 

_ Cấu trúc của câu thơ theo kiểu suy luận, ( Đất nước là … nêu lên một tiền đề. Từ tiền đề ấy, phải biết…/ phải biết… để làm nên … ),kết hợp với các điệp ngữ (“phải biết – phải biết”), cùng các động từ mạnh (“gắn bó, san sẻ, hóa thân”) …nhà thơ như nhắn nhủ mình, nhưng cũng lànhắn nhủ với mọi người ( nhất là thế hệ trẻ) về trách nhiệm thiêng liêng của mình với đất nước. Cái hay là lời nhắn nhủ mang tính chính luận nhưng lại không giáo huấn mà vẫn rất trữ tình, tha thiết như lời tự dặn mình – dặn người của nhà thơ.

III. KẾT LUẬN 

Đoạn thơ trên là một đoạn thơ hay trong bài Đất Nước. Nhà thơ đã thể hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình về đất nước bằng một giọng trữ tình, ngọt ngào. Câu chuyện về đất nước đối với mỗi người luôn là câu chuyện của trái tim, vừa thiêng liêng, cao cả, cũng vừa gắn bó, thân thiết. Từ suy nghĩ và tình cảm ấy, khi đối diện với kẻ thù của dân tộc, hẳn người ta phải biết làm gì cho Tổ quốc, giang sơn. 

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , | 1 Comment »

Cảm nhận của em về đoạn thơ “Khi ta lớn lên…ngày đó” trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

Posted by thaidung1611 trên 18/04/2014

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn KHoa Điềm.

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo  phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

GỢI Ý PHÂN TÍCH

 I. MỞ BÀI

_ Đất Nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận và cách thể hiện riêng

_ Nếu như các nhà thơ cùng thời thường cảm nhận về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay qua các triều đại phong kiến thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi,  bình dị : Đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại.

_ Đoạn thơ “Khi ta lớn lên … Đất Nước có từ ngày đó” là đoạn thơ thể hiện rõ nhất tư tưởng ấy.

II. THÂN BÀI

1/ (Xuất xứ chủ đề)

_ _ Đất Nước là đoạn trích thuộc chương V,của trường ca Mặt đường khát vọng. Tác phẩm được hình thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974.

_ Thời điểm này miền Nam bị tạm chiến, đế quốc Mĩ và bọn tay sai ra sức chống phá cách mạng,mua chuộc thanh niên vào chốn ăn chơi mà quên đi trách nhiệm với đất nước.

Viết trương ca này, Nguyễn Khoa Điềm nhằm đánh thức tinh thần trách nhiệm và giúp thế hệ trẻ tự nhận thức rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của họ đối với đất nước.

2/(Phân tích chi tiét)

a/ Mở đầu bài thơ, tác giả đi cắt nghĩa về nguồn gốc của Đất Nước :  “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”.

→ lời thơ tự nhiên giản dị như lời kể chuyện cổ tích của bà của mẹ

→Qua đó ông khẳng định: Đất Nước đã có từ rất lâu rồi, có từ trước khi ta sinh ra và lớn lên

→Cụm từ “Đất Nước đã có rồi”vang lên vừa như 1 lời khẳng định chắc nịch vừa là niềm tự hàovề sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử .

Bằng giọng thơ tâm tình như lời kể chuyện cổ tích,

b/ Nhà thơ tiếp tục diễn tả cụ thể hơn về sự ra đời và tồn tại của nó

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Một thế giới cổ tích, truyền thuyết như ùa về sống dậy trong tâm hồn người đọc.

_ Hình ảnh miếng trầu của bà gợi câu chuyên trầu cau với tình người nồng hậu thủy chung.

_ Hình ảnh dân mình trồng tre đánh giặc gợi sự tích Thánh Gióngkhúc anh hùng ca, biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của nhân dân Việt Nam thuở bình minh dựng nước

Chẳng ai trong chúng ta biết đất nước có tự bao giờ. Nhưng mỗi người đều cảm nhận thấy Đất Nước không phải là hình người khổng lồ xa lạ hay một khái niệm trừu tượng chung chung. Mà àđất nước hiện hình cụ thể gần gũi thân thương trong cuộc sống của mỗi con người như câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn

Cứ như thế,

c/ Đất nước lớn lên theo những phong tục tập quán :  

  Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo  phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

→Lịch sử lâu đời của đất nước được tác giả nhìn từ chiều sâu văn hóa dân gian với những phong tục tập quán như cách búi tóc thành cuộn sau gáy, gọn gàng của người phụ nữ Việt Nam. Là tình nghĩa vợ chồng thủy chung như trong câu ca dao 

 “Tay bưng chén muối đĩa gừng

 Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

 Là cách đặt tên con cái từ những vận dụng hàng ngày để mong may mắn hay ăn chóng lớn.

 Là tập quán làm lúa nước gợi ra  những gương mặt chăm chỉ, cần cù làm lụng “một nắng hai sương xay giã dần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là những giọt mồ hôi nhọc nhằn của người nông dân. Nên

→Các động từ “Xay, giã, dần, sàng” không chỉ là quy trình vất vả làm ra hạt gạo.Mà đó còn là lòng biết ơn đối với người làm ra nó, bởi “dẻo thơm một hạt dắng cay muôn phân”

→Cấu trúc câu thơ đất nước đã có, đất nước bắt đầu, đất nước có từ…cho chúng ta hình dung cả quá trình sinh ra, lớn lên , trưởng thành của đất nước trong trường kỳ, trong tâm thức của con người Việt Nam bao nhiêu thế hệ.

Khổ thơ khép lại bằng sự khẳng định đầy tự hào :

Đất nước có từ ngày đó

– “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước.

Lấp lánh trong đoạn thơ là hình ảnh Đất Nước thân yêu. Quá khứ của Đất Nước “ngày xửa ngày xưa” đồng hiện trong “miếng trầu bây giờ bà ăn”. Có Đất Nước anh hùng “biết trồng tre mà đánh giặc”. Có Đất Nước cần cù trong lao động sản xuất: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Có nền văn hóa giàu bản sắc, nền văn hiến rực rỡ hội tụ qua thuần phong mĩ tục (tục ăn trầu, tục bới tóc), qua tục ngữ ca dao “gừng cay muối mặn”, qua cổ tích thần thoại, truyền thuyết.

III/ Kết luận

Đoạn thơ 9 câu, 85 chữ mà không hề có một từ Hán Việt nào. Ngôn từ bình dị, cách nói biểu cảm thân mật. Hiện diện trong đoạn thơ là: ta, dân mình, bà, cha, mẹ. Có miếng trầu, cây tre, tóc mẹ,… Có “gừng cay muối mặn”, cái kèo, cái cột, hạt gạo, v.v… Thật là thân thuộc và gần gũi, sâu xa và thấm thía, rung động. Tưởng tượng thì phong phú, liên tưởng thì bao la. Đoạn thơ đã “nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp” để ta yêu thêm Đất Nước và tự hào về Đất Nước. Cấu trúc đoạn thơ: “tổng – phân – hợp”; mở đầu là câu “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, khép lại đoạn thơ là câu “Đất Nước có từ ngày đó”. Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ kết hợp hài hòa với chất trữ tình đậm đà. Đoạn thơ mang vẻ đẹp độc đáo nói về cội nguồn Đất Nước thân

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | 1 Comment »

Nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Posted by thaidung1611 trên 18/04/2014

NHÂN VẬT PHÙNG

Giã từ những khẩu súng ngoài chiến trường,nhân dân ta lại trở về với công việc mưu sinh thường ngày, bắt đầu một cuộc sống mới, một hành trình mới. Nguyễn Minh Châu cũng vậy. Vốn giàu tâm huyết với văn chương, luôn trăn trở về một nền văn học xứng đáng với sự kì vọng của nhân dân, nhà văn sớm ý thức được yêu câu phải đổi mới tư duy văn học, nên ông đã từ cảm hứng sử thi lãng mạn từng làm nên vẻ đẹp rực rỡ những hình tượng chiến tranh nay ông chuyển sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Với vai trò ấy cùng với những thành công của mình, ông xứng đáng với vị trí “người mở đường tinh anh và tài năng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Và Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là kết quả của hành trình khám phá nghệ thuật đó.

Tác phẩm được viết vào 8/ 1983,  được in trong tập Bến quê, sau tác giả tách ra và lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn khác ( bắt đầu từ truyện Bức tranh trở đi ) 

Để xuất bản một bộ lịch nghệ thuật ưng ý về thuyền và biển, theo đề nghị của trưởng phòng nhiếp ảnh, Phùng đến vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ …

Phùng là một nghệ sĩ tài hoa, say mê cái đẹp. Niềm đa mê ấy khiến anh phục kích hàng tuần liền trên bờ và thu được những tấm ảnh đẹp. Đó là cảnh vùng phá nước phẳng lặng và tươi mát như da thịt mùa thu. ..Đặc biệt là trước cảnh đẹp trời cho, Phùng  thấy “một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước mặt”, và trong thời khắc này trước mặt anh không phải là cảnh thật mà “ là một bức tranh mực tầu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh sáng mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng…”. “Toàn bộ khung cảnh ấy từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà” một vẻ đẹp toàn bích

Đứng trước cảnh đẹp như mơ ấy, Phùng “trở nên bối rối, trong tim như có cái gì bóp thắt vào”, và”tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chân chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa trong biển sương mờ, anh đã bắt gặp cái tận thiện, tận mĩ, thấy tâm hồn như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời.

Say mê với cái đẹp nhưng anh cũng tỉnh táo để nhìn thấy những nghịch lý của cuộc đời. Chính lúc anh chắc mẩm” trong ngày hôm nay hoặc sáng mai đã có thể nhảy lên tàu hoả trở về  thì anh đã bất ngờ nhìn thấy từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí mệt mỏi và một người đàn ông thô kệch dữ dằn“ chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền…người đàn bà trạc ngoài bốn mươi…thân hình cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ mặt rỗ. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng…”. “Người đàn ông đi sau tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước đi từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ…” Và không chỉ có thế  Phùng còn phải chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ vô lí và thô bạo “Chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh, vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa ằng cái giọng rên rỉ đau đớn…”

Rồi cả cảnh thằng Phác kịp chạy tới để che chở cho người mẹ đáng thương. “ Không biết làm thế nào, nó đã giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khoá sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng…” Khi lão đàn ông lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền, lúc này người đàn bà dường như mới cảm thấy đau đớn  xấu hổ, nhục nhã.

Như trò đùa quái ác của cuộc sống, đúng vào lúc Phùng có khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đem lại và anh đã từng chiêm nghiệm “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, vậy mà hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích” mà anh vừa gặp trên biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, cũng chẳng phải là “chân lí của sự hoàn thiện”. Mà anh ngộ ra rằng cuộc đời luôn tồn tại cả thiện ác, tốt xấu.

Nhưng điều đáng quí nhất ở người nghệ sĩ này chính là tấm lòng dành cho cuộc đời. Anh đã từng là người lính cầm súng chiến đấu để có vẻ đẹp thanh bình của thuyền biển mênh mông, anh không thể chịu được cảnh người đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo. nên lần thứ hai, khi lại phải chứng kiến cảnh ấy, Phùng không thể làm ngơ. Anh “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới căn ngăn cơn cuồng nộ. Hạnh động đó không chỉ cho ta thấy Phùng sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện và sự công bằng của cuộc đời. mà dường như nhà văn còn muốn gửi đến một thông điệp : trước khi là một nghệ sĩ yêu cái đẹp, hãy là một con người biết yêu thương và chia sẻ nỗi đau nhân thế. Trước khi rời vùng biển trung du đầy nắng gió, anh đã đi suốt một đêm ngoài bờ phá. Chắc hẳn anh sẽ không thể quên cảnh đẹp nơi đây, và càng thể quên hình ảnh chiếc thuyền chống chịu con sóng gió. Rồi cả  những ngày biển động là những ngày đói, cả tháng trời ăn xương rồng luộc chám muối. Lòng người nghệ sĩ nặng trĩu bao điều trăn trở : Bao giờ cuộc đời của những người hàng chai mới hết khổ. Tương lai con cái họ sẽ ra sao… Chính những suy nghĩ và tình cảm của anh không chỉ làm nên vẻ đẹp tâm hồn của người nghệ sĩ mà còn thức tỉnh tình người trong lòng người đọc. Quả thực đối với một người nghệ sĩ, tài năng là quan trọng, nhưng quan trọng hơn cả là cái tâm đối với cuộc đời:

          Thiện căn ở tại lòng ta

  Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (Nguyễn Du)

Vì anh bị đánh trọng thương phải đưa về trạm y tế của toà án huyện, Phùng mới đươc nghe lời giãi bày của người đàn bà hàng chài . Để rồi từ đó Phùng ngộ ra được nhiều điều về nhân tình thế thái. Hóa ra lão chồng vũ phu luôn mồm nguyền rủa vợ con lại là người đứng mũi chịu sào, vắt kiệt sức lực dể nuôn nấng vợ con. Hóa ra  bên trong ngoại hình xâu xí  của người đàn bà hàng chài là một tâm hồn  đẹp, một tấm lòng vị tha, một tình mẫu tử thiêng liêng.Hóa ra cái lẽ đời cay cực kia chưa thể thanh toán bằng lòng tốt, bằng ý chí chủ quan.Hóa ra trong cuộc đời có những nghịch lí con người bắt buộc phải chấp nhận, như kiểu “Trên thuyền phải có một người đàn ông…dù hắn mạn dợ tàn bạo. Và anh cũng ngộ ra  sâu sắc một điều : Trong cuộc chiến chống đói nghèo, đau khổ tối tăm, cần phải có những giải pháp thiết thực chứ không phải là những thiện chí hoặc những lí thuyết đẹp đẽ xa rời thực tế. Và đó là cuộc chiến còn gian nan hơn cả cuộc chiến chống ngoại xâm. Chừng nào  chưa thoát đói nghèo con người còn phải sống chung với cái xấu và cái ác. Đây cũng là sự vỡ ra của người nghệ sĩ nhiếp ảnh về “độ chênh” giữa cái đẹpnghệ thuật và thực tế cuộc sống.

Trở về từ bãi biển miền trung, Phùng mang  theo nhiều tấm ảnh, trong đó có tẩm ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”. Đó là một bức ảnh tĩnh, đen trắng , nhưng lần nào nhìn sâu bào bức tranh, Phùng lại như thấy một người đàn bà hàng chài bước ra từ chiếc thuyền đó. Nó làm cho anh thấm thía một điều : Nghệ thuật không chấp nhận sự giả dối, nghệ thuật phải gắn liền với cái thật và đạo đức. Nghệ thuật chân chính luôn tồn tại và phát triền trong mối quan hệ gắn bó với cuộc đời. Và vì thế người nghệ sĩ nhìn nhận cuộc sống không thể đơn giản và sơ lược mà phải đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sâu bên trong của hiện tượng. “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”và một tác phẩm có giá trị phải “chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người”(Nam Cao)

Thông qua nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sinh động quan điểm nghệ thuật trên.Giá trị nhân đạo của tác phẩm được toát ra từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm cả khát vọng kiếm tìm, phát hiện tôn vinh những vẻ đẹp người còn tiềm ẩn, cả những khắc khoải lo âu trước cái xấu và cái ác…

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , | 1 Comment »

Hình ảnh người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Posted by thaidung1611 trên 18/04/2014

                                                             NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI

Giã từ những khẩu súng ngoài chiến trường,nhân dân ta lại trở về với công việc mưu sinh thường ngày, bắt đầu một cuộc sống mới, một hành trình mới. Nguyễn Minh Châu cũng vậy. Vốn giàu tâm huyết với văn chương, luôn trăn trở về một nền văn học xứng đáng với sự kì vọng của nhân dân, nhà văn sớm ý thức được yêu câu phải đổi mới tư duy văn học, nên ông đã từ cảm hứng sử thi lãng mạn từng làm nên vẻ đẹp rực rỡ những hình tượng chiến tranh nay ông chuyển sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Với vai trò ấy cùng với những thành công của mình, ông xứng đáng với vị trí “người mở đường tinh anh và tài năng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Và người đàn bà hang chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là kết quả của hành trình khám phá nghệ thuật đó.

Tác phẩm được viết vào 8/ 1983,  được in trong tập Bến quê, sau tác giả tách ra và lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn khác ( bắt đầu từ truyện Bức tranh trở đi ) 

Để xuất bản một bộ lịch nghệ thuật ưng ý về thuyền và biển, theo đề nghị của trưởng phòng nhiếp ảnh, Phùng đến vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ …Tại đây, anh đã được chứng kiến cảnh đẹp trời cho và cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa. Nhưng cũng từ cảnh đẹp trời cho này anh lại nhìn thấy cảnh tượng phũ phàng : một người đàn ông vũ phu hành hạ thô bạo một người đàn bà…Khiến Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên sững sờ sửng sốt, ngộ ra nhiều điều.

Trong toàn bộ câu chuyên, người đọc không biết đến tên của người đàn bà tội nghiệp này. Bởi Nguyễn Minh Châu chỉ gọi chị bằng các từ phiếm định: người đàn bà hàng chài, mụ, chị ta…Không phải nhà văn nghèo chữ đến mức không thể đặt cho chị một cái tên. Mà dường như đằng sau cách gọi ấy, tác giả đã hé mở cho ta thấy một cuộc đời ngang trái giữa cuộc sống bộn bề lo toan.

Chị xuất hiện trong tác phẩm với một ngoại hình thật xấu xí: trạc ngoài 40 tuôi, dáng người thô kệch, mặt rỗ, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm hức trắng kéo lưới tái ngắt…Và dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều dồn vào chị. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh với một đàn con nhỏ trên thuyền trật trội. Theo cảm nhận thông thường của dân gian “trông mặt mà bắt hình dong” thì ắt hẳn chị chẳng phải là người tốt đẹp gì ! Nhưng đừng sau hình hài xấu xí, đằng sau số phận bất hạnh đó là một tấm lòng nhân hậu, bao dung vị tha và đức hi sinh

Sau những đêm thức trắng kéo lưới, chờ sẵn chị ở trên bờ là những trận đòn hùng hổ như lửa cháy “ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng”. Bị chồng hành hạ đến khốn khổ, nhưng kì lạ thay người đàn bà vẫn không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy. Thậm chí cả khi nhận được sự cảm thông của toà án, người đàn bà vẫn kiên quyết gắn bó với lão đàn ông vũ phu ấy.

Vì sao vậy ? Phải chăng chị ta bị đòn nhiều đến mức quen rồi, không còn biết đau đớn ! Hay chị ta tăm tối dốt nát đến mức không còn chút ý thức về quyền sống của mình ! Không ! Khi Kiều bị đánh đập tàn nhẫn, Nguyễn Du đã từng thốt lên :

                                       Thịt da ai cũng là người

                                  Lòng nào chẳng rụng thắm nào chẳng rơi

Đến con giun con dế xéo mãi cũng phải quằn huống chi con người. Người đàn bà hàng chài cũng chỉ là một con người bình thường bằng xương thị, cũng biết đau, cũng có cảm giác, cũng có ý thức tự vệ. Nhưng đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con …Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên đất được”. “Cá chuối đắm đuối vì con”. Con vật còn như vậy huống chi là con người ! Trong hoàn cảnh đông con mà cuộc sống trên mặt nước đầy nhọc nhằn bất trắc, nỗi lo cơm áo không lúc nào buông tha, liệu người mẹ của một đàn con kia có thể có cách lựa chọn nào tốt hơn  là cam chịu nhẫn nhục hi sinh.

Hơn nữa chị ta cũng hiểu căn nguyên những cơn giận dữ của chồng. Hắn “vốn là người cục tính nhưng hiền lành lắm”“Không bao giờ đánh đập tôi” .Nhưng bây giờ thì sao ? “Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như nhìn suốt cả cuộc đời  mình : Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn”, “cũng túng quẫn đi vì trốn lính. Nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá mà thuyền lại chật”. Đẻ nhiều, làm ăn lại khó khăn “Ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn xương rồng luộc chấm muối. Đói khổ đâm ra trái tính “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh”. mặt đỏ gay…lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa băng cái giọng rên rỉ đau đớn…” giãi bàytất cả những điều này với ông chánh án là chị đã rất hiểu, rất cảm thông cho sự bế tắc túng quẫn của chồng. Và chị cũng biết lão ta đánh vợ thật nhưng chắc chắn trong lòng lão cũng đau đớn lắm !

Yêu con, cam chịu nhẫn nhục cũng vì con nhưng chị còn lo hơn cho nhân cách của các con trong cảnh bạo hành gia đình. ”sau này các con lớn lên, tôi xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”. Và thế  khi thằng Phác con bà phải chứng kiến cảnh bà bị hành hạ, người mẹ cảm thấy”vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã Bà “ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để” , “rồi lại ôm chầm lấy nó”, để rồi cuối cùng “bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ …đuổi theo lão đàn ông”

Bà đau đớn vì rốt cuộc bà đã không sao tránh được cho con cái khỏi bị tổn thương vì bạo lực gia đình,. Bà lo sợ không biết “thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó”. Bà thấy xấu hổ nhục nhã vì phải giấu giếm tình trạng khốn khổ của mình, hay vì bất lực không dạy được con. Bà vái con là để ta tội với con vì không cho con một gia đình hạnh phúc ) hay cầu xin nó đừng căm giận bố, đừng độc ác như bố ! Có lé là tất cả. Mà trên hết đó chính là tình thương con vô bờ bến. Vì thương con, người mẹ sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng chấp nhận những đau đớn nhục nhã . Và vì thế người mẹ cũng không thể có cách nào khác là lại “đuổi theo lão đàn ông”, “lại trở về chiếc thuyền”. Bởi đó là sinh kế duy nhất của các con mẹ.

 

 

 

 

 

 

 

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , | 1 Comment »

Cảm nhận của em về bài Sóng của Xuân Quỳnh

Posted by thaidung1611 trên 18/04/2014

Cảm nhận của em về bài Sóng cuả Xuân Quỳnh

Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không vì thế mà nó thành đơn điệu nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu khát khao riêng, không ai giống ai. Ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn mãnh liệt, người tự cho mình là kẻ uống tình yêu dập cả môi. Nguyễn Bính người nhà quê chân thật da diết. Và thật bất ngờ ta gặp nữ sĩ với tâm hồn dạt dào yêu đương : Xuân Quỳnh.

Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nhưng không kém phần cháy bỏng nồng say. Điều đó được thể hiện khá rõ trong bài Sóng.

Bài thơ được sáng tác năm 1967 trong một chuyến đi vùng biển Diên Điền. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào, Nhà xuất bản văn học 1968.

Bằng cách diễn tả chân thực, tự nhiên cùng với cách cấu tứ giản dị nhưng, sắc sảo dễ đi vào tâm trí người đọc, bằng tiếng nói đầy cảm xúc và có sắc thái riêng đậm nữ tính, Xuân Quỳnh đã thêu dệt nên bài thơ bằng hình tượng trung tâm “sóng”.

Cách đây mấy trăm năm, thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nhắc đến con sóng khi viết về mối tình Kim – Kiều : “Sóng tình dường đã xiêu xiêu” hoặc “Lạ cho cái sóng khuynh thành”. Và hơn một lần Xuân Diệu cũng đã có câu thơ về sóng “Dâng cả tình yêu lên sóng mắt”. Hay “Anh xin làm sóng biếc, Hôn cát mãi vàng em”. Và như thế nữ sĩ đã nối tiếp truyền thống trong văn học ta là lấy sóng nước để hình dung với sóng tình. Nhà thơ mượn hình tượng sóng để diễn ta những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú phức tạp vừa tha thiết sôi nổi của trái tim đang rạo rực khát khao yêu đương. Sóng trở thành hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự phân thân, hoá thân của cái tôi trữ tình, một kiểu đặc biệt của cái tôi trữ tình nhập vai.

Cùng với hình tượng “sóng”, trong bài thơ còn có một hình tượng nữa , đó là “Em” – cái tôi trữ tình của nhà thơ. Hai nhân vật trữ tình này tuy hai mà là một. Có lúc chúng hoà nhập vào nhau để tạo nên sự âm vang cộng hưởng, có lúc lại phân đôi ra để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng. Ở khổ 1 sóng được nhân cách hoá “Sóng tìm ra tận bể”. Sang khổ 2 : Sóng là hình ảnh ẩn dụ là hiện thân của khát vọng tình yêu bồi hồi trong ngực trẻ. Qua khổ 3, 4 : Sóng trở thành hiện thân của tình yêu Em và Anh. Sóng và Em đan xen nhau. Đến khổ 5 : Thêm hình ảnh cuả bờ để bổ sung cho hình tượng sóng, hình tượng hoá nỗi nhớ người yêu. Khổ này được cấu tạo đặc biệt gồm 6 câu . Đó cũng là lời tự bạch của em, của trái tim khát khao tình yêu. Nếu khổ 6 chỉ nói về em thì khổ 7 lại chỉ nói về song. Nghệ thuật kết cấu đan xen như vậy tạo nên sự so sánh ngầm, hình thức ẩn dụ : Sóng giống như Em, Em cũng như Sóng. Đến khổ cuối sự so sánh ngầm này trở thành ước muốn hoá thân : Em muốn hoá thân thành sóng. Như vậy hai hình tượng này đan cài quấn quít với nhau như hình với bóng, song song tồn tại từ đầu đến cuối bài thơ, soi sáng bổ sung cho nhau, nhằm diễn tả một cách mãnh liệt hơn, sâu sắc và thấm thía khát vọng tình yêu đang cuồn cuộn dâng trong trái tim nữ sĩ.

Hình tượng sóng quả là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh. Nhưng “sóng”trước hết được gợi ra từ âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng của thể thơ 5 chữ cùng với những câu thơ thường không ngắt nhịp đã tạo nên nhịp điệu của những con sóng biển  liên tiếp triền miên vô hồi vô hạn, lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm chạy suốt bài thơ.Và âm hưởng chung của bài thơ không đơn giản chỉ là âm điệu của những con sóng biển. Màđó còn là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập khao khát tình yêu vô hạn đang rung lên đồng điệu với sóng biển

Chúng hoà hợp với nhau đến mức ta không còn phân biệt được đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn thi sĩ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng biển để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu không chịu yên định mà đầy biến động khát khao.

@/ Khổ 1

Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đưa người đọc bước vào thế giới của sóng, nhịp điệu của biển cả :

   Dữ dội và dịu êm   

   ồn ào và lặng lẽ

   Sông không hiểu nổi mình    

   Sóng tìm ra tận bể       

Bắt đầu là sóng nước. Đúng là như vậy. Không kể là ở sông hay bể, lúc cồn lên thì sóng dữ dội ồn ào, có thể làm lật thuyền, đắm tàu. Nhưng lúc trời yên biển lặng, thì nó lại dịu êm lặng lẽ. Nhưng dùDữ dội” hay “dịu êm”, “ồn ào” hay “lặng lẽ”  thì cũng là  Sóng

Dữ dội đấy nhưng cũng dịu êm đấy. Chợt ồn rồi chợt lặng. Đó là đặc tính của sóng. Nó vốn là một trạng thái động, một vật thể tự nhiên luôn chứa đựng những mâu thuẫn, những đối cực trong cùng một hiện tượng. Sóng phức tạp về hình thức, khó hiểu về bản chất.

 Sóng luôn luôn biến đổi muôn hình muôn vẻ. Vì sao vậy ?  Đến sóng không hiểu nổi mình, chỉ biết rằng hiện tượng ấy cứ thường xuyên diễn ra . Ở khổ đầu, sóng hay chính là người con gái đang yêu. Sự phức tạp về hình thức khó hiểu về bản chất của sóng cũng chính là đặc tính đa dạng khó giải thích của tình yêu :Thoắt vui, thoắt buồn, thoắt cáu giận lại yêu thương. Sóng được nhân cách hoá,kết hợp với nhịp thơ biến hoá linh hoạt, Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể, thật chính xác cái trạng thái khác thường vừa phong phú vừa phức tạp của trái tim đang cồn cào khát khao tình yêu

Sự phức tạp ấy đến sóng cũng không hiểu nổi mình. Và nó cần một lời giải đáp

   Sông không hiểu nổi mình          

   Sóng tìm ra tận bể

Hành trình từ sông ra bể của sóng là hành trình từ bỏ cái chật hẹp tù túng để đến với chân trời bao la rộng lớn, nơi vô cùng sâu rộng có trời nước bao la, có nồm nam êm nhẹ nhưng cũng có những bão tố dữ dằn. Ở những nơi như thế, may ra sóng mới có thể hiểu nổi mình.

Trái tim người con gái đang yêu cũng như sóng, không chấp nhận sự tầm thường nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình. Nếu trước kia “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” (Hồ Xuân Hương) thì bây giờ “Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể”. Thật dứt khoát, thật rõ ràng. Hai câu thơ không chỉ thể hiện khát vọng tìm tòi đến tột độ mà ở đây ta còn thấy một nét mới trong quan niệm tình yêu : Yêu đến khát khao cháy bỏng nhưng không cam chịu, không nhẫn nhục.

@/ Khổ 2

Sóng là như thế, nhưng sóng có bao giờ mất đi cũng như tình yêu mãi mãi là khát vọng muôn đời của nhân loại :

    Ôi con sóng ngày xưa

    Và ngày sau vẫn thế       

    Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ 

Con sóng ngày xưa thế nào, con sóng ngày sau vẫn thế : Trường tồn bất biến.

Sóng nước cũng như sóng tình. Bao nhiêu thế hệ đã qua, những cuộc hành trình đau khổ vui sướng, những niềm xót xa cùng hạnh phúc ngập tràn, tất cả đều vì khát vọng tình yêu. Con người từ thuở mông muội đến hiện đại thìtình yêu vẫn là điểm sáng vĩnh cửu  mà con người luôn vươn tới để sống, chiến đấu, lao động.  Nhà thơ nêu cái qui luật bất di bất dịch của tự nhiên để nhấn mạnh qui luật của tình yêu

Khát vọng tình yêu là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là ở tuổi trẻ. Nhưng khát vọng không hoàn toàn đồng nghĩa với ước vọng. Bởi ước vọng mới chỉ là ước và mong. Còn khát vọng thì đã là sự đa mê cháy bỏng mãnh liệt không giới hạn. Đó chính là nét đặc trưng của tình yêu. Nhưng nhắc đến tình yêu người ta thường nhắc đến tuổi trẻ:Bồi hồi trong ngực trẻ. Tình yêu và tuổi trẻ thường đi đôi với nhau, gắn liền với nhau. Như nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói : “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo, Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”. Ở lứa tuổi mùa xuân của đời người này, tình yêu mới phát triển mạnh mẽ nhất và mang đầy đủ ý nghĩa nhất. Tình yêu tràn đầy cơ sở thanh xuân, làm bồi hồi trái tim trong ngực trẻ khiến nó lúc nào cũng thổn thức nhớ mong khát vọng.

(@/ Khổ 3 – 4 : Suy ngẫm về tình yêu anh và em)

Tình yêu là như vậy, tự nhiên như hơi thở, cần thiết như cơm ăn, nước uống hàng ngày. Ấy thế mà tình yêu là gì mà có sức quyến rũ đến như vậy thì chưa ai giải thích được. Ngay đến Xuân Diệu – một nhà thơ tình nổi tiếng, một con người luôn khát khao giao cảm với đời, say đắm với tình yêu mà cũng bất lực :

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu        

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu

Làm sao có thể cảnh giác được tình yêu. Nó đến lúc nào ta đâu có biết và nó chiếm hồn ta lúc nào ta đâu có hay. Trước một vấn đề khó lí giải như vậy, em làm sao tránh khỏi sự băn khoăn trăn trở :

    Trước muôn trùng sóng bể              

    Em nghĩ về anh, em

    Em nghĩ về biển lớn

    Tự nơi nào sóng lên                             

Em nghĩ nghiã là em đang thao thức, đang lo lắng, đang đặt ra nhiều câu hỏi.  Điệp từ làm cho câu thơ đằm lại dịu dàng và càng làm rõ hơn sự suy nghĩ trong lòng em. Và như thế nhà thơ có một chút bối rối ưu tư muốn tìm hiểu về anh về em về biển lớn chứ không phải chỉ quen bồng bềnh, quen si mê, chỉ yêu và đơn thuần chỉ là yêu. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không đơn giản, yêu cháy bỏng nồng say nhưng không vì thế mà hời hợt.

Đến đây, nhân vật trữ tình có vẻ không thống nhất. Nếu ở đoạn thơ trên, em còn giấu mình trong lớp sóng ngoài kia thì đến đoạn này dường như nhà thơ không kìm chế nổi tình yêu đang dâng lên dạt dào trong ngực trẻ. Nhân vật trữ tình đã thoát ra khỏi lớp áo ẩn dụ để xưng em

          Em nghĩ về anh em

          Em nghĩ về biển lớn

Anh phải chăng là biển lớn, là cuộc đời mênh mông. Em là con sóng dạt dào là biểu tượng cho một tình yêu trỗi dậy. Xuân Quỳnh nghĩ về tình yêu, về anh nhưng vẫn nghĩ đến cuộc đời chung. Đó là điều đáng quí.Nhà thơ nắm bắt được mối liên hệ giữa hạnh phúc riêng và cuộc sống chung của mọi người.

Nếu sóng tìm ra tân bể để tự hiểu mình thì em cũng sẽ tìm đến tình yêu anh để hiểu sâu hơn về con người đích thực của em.

Trước không gian bao la của biển cả, làm sao em không trăn trở với những câu hỏi tự ngàn xưa

                           Sóng bắt đầu từ gió

                           Gió bắt đầu từ đâu

Nơi nào là nơi bắt đầu của sóng ? Khó mà trả lời cho chính xác. Song vẫn có thể nói rằng : Sóng bắt đầu từ gió. Có gió thì mới có sóng, tất nhiên là như vậy. Nhưng “Gió bắt đầu từ đâu”. Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm đến nơi khởi nguồn, nơi bắt đầu của sự vật. Và câu trả lời không phải dễ dàng gì. Nhưng chúng ta nhận được một câu trả lời thật bất ngờ :

_ Em cũng không biết nữa

   Khi nào ta yêu nhau

Một lần nữa Xuân Quỳnh lại trở về cái đề tài muôn thuở: tình yêu là gì ? Câu trả lời như một cái lắc đầu nhè nhẹ đáng yêu, như một lời nũng nịu ngây thơ hồn nhiên xen chút bất lực.

Nhưng chính cái hồn nhiên chân thực ấy làm cho tình yêu trở nên hấp dẫn và người chủ của nó hiện ra duyên dáng đáng yêu biết nhường nào.

Thế là ra tận bể mà sóng vẫn chưa hiểu nổi mình. Em đã hoà nhập vào biển lớn của tình yêu mà nào em đã hiểu em. Em yêu anh từ đâu ? Khi nào ? Từ cái gì ? ánh mắt, nụ cười, giọng nói, hay như ai đó yêu từ sắc ngựa tuyết in, cỏ pha màu áo, rêu phong dấu giày ( Truyện Kiều )

Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm về cội nguồn của nó. Nhưng em cũng không biết nữa. Mà biết để làm gì. Chỉ cần hiểu rằng : Ta vẫn yêu nhau là đủ. Cái thiêng liêng nhất, tuyệt diệu nhất trong tình yêu là sự giao cảm, hoà hợp sâu xa giữa hai tâm hồn, hai nửa cuộc đời tự nguyện gắn bó với nhau để tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, vĩnh viễn không trước cũng không sau.

(@/ Khổ 5 : Tình yêu em hoá thành nỗi nhớ da diết cháy bỏng)

Tình yêu ấy gắn liền với nỗi nhớ niềm thương sâu sắc cồn cào mãnh liệt :

Con sóng dưới lòng sâu 

Con sóng trên mặt nước                   

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

  Trước biển xanh mênh mông muôn trùng sóng vỗ, Xuân Quỳnh phát hiện ra những con sóng cứ vỗ hoài, cả ngày cả đêm không biết mệt mỏi. Dù : Con sóng trên mặt nước (hay )  dưới lòng sâu thì cũng đều nhớ bờ,

Có bờ. Bờ là nơi đến của sóng, là đối tượng để sóng vuốt ve vỗ về. Bờ là cái đích của sóng, để sóng lúc nào cũng không quên, lúc nào cũng nhớ về. Sự tài tình của tác giả là đã tìm được một ẩn dụ rất khéo léo phù hợp với tâm trạng, diễn tả chính xác nỗi nhớ cồn cào của sóng hay cũng chính là của em.

Vắng anh em nhớ, đó là nỗi nhớ trên mặt. Gần anh mà em cũng vẫn nhớ, đó là nỗi nhớ dưới lòng sâu. Nỗi nhớ  trong em mênh mông trải rộng trong không gian ( trên – dưới ), trải dài theo thời gian ( ngày – đêm )

Nói cách khác “con sóng dưới lòng sâu, con sóng trên mặt nước”chính là những cung bậc khác nhau của nỗi lòng em nhớ anh.

Nỗi nhớ ấy da diết khắc khoải, thổn thức, khiến nhà thơ không tự làm chủ được mình, một lần nữa tự lột bỏ lớp áo ẩn dụ bên ngoài để trái tim tự thột lên lời :

_ Lòng em nhớ tới anh

   Cả trong mơ còn thức

Câu thơ thật mới lạ ! Trong mơ mà lại còn thức. Đó chính là sự vô lí của cuộc đời nhưng lại là cái nghĩa lí của văn chương : Cái nhớ không hề chợp mắt. Nó không chịu ngủ, cứ thức hoài, nó len cả vào trong cơn mơ da diết cháy bỏng. Khổ thơ thêm hai câu chính là một cách kết câu đầy dụng ý nhằm nêu bật tình yêu mãnh liệt của em. Những cặp từ sóng đôi tương ứng bên nhau ( sóng – bờ, trên – dưới, ngày – đêm) tạo âm hưởng hài hoà, nhịp điệu đung đưa như sóng

(@/ Khổ 6 – 7 : Em khẳng định sự chung thuỷ)

Càng đến cuối bài thơ, Xuân Quỳnh càng tỏ ra mình là một người sâu sắc thuỷ chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh là tình yêu từ hai phía. Ở đây nhân vật trữ tình đã có đối tượng để hướng tới, chứ không vu vơ. Hơn nữa tình cảm, tâm hồn nhân vật trữ tình không bi quan chán nản mà tràn đầy hi vọng :

       Dẫu xuôi về phương Bắc                    

     Dẫu ngược về phương Nam

      Nơi nào em cũng nghĩ                

      Hướng về anh một phương

Dẫu xuôi – ngược, phương Bắc – phương Nam. Đó là những độ dài cách trở, những gian nan thử thách đối với tình yêu. Nhưng phương hướng khoảng cách đặt ra xa bao nhiêu thì lòng người lại càng thể hiện rõ rệt sự thuỷ chung bấy nhiêu : Một phương. Bằng tình yêu, bằng tiếng nói của trái tim, Xuân Quỳnh đã phát hiện ra một phương thật lạ : phương anh, phương tình yêu.Và chính cái mới lạ, cái độc đáo ấy làm cho bài thơ trở nên dễ thương và đậm nữ tính nhưng cũng thật rắn rỏi, mạnh mẽ dứt khoát rõ ràng.

Khổ thơ đặt ra những thử thách, những cách trở nhưng cũng đưa ra những quyết tâm của con người. Tình yêu sẽ chiến thắng tất cả nếu là tình yêu chân thành thuỷ chung. Điệp khúc dẫu xuôi, dẫu ngược như một sự khẳng định, một lời chung thuỷ ghi lòng tạc dạ.

Dường như để khẳng định thêm cho lời nói của mình, nhà thơ đưa ra một loạt các dẫn chứng về thiên nhiên, tạo vật. Tất cả rồi sẽ chiến thắng nếu có sự kiên nhẫn, có sức mạnh :

      Ở ngoài kia đại dương

      Trăm ngàn con sóng đó              

      Con nào chẳng tới bờ

      Dù muôn vời cách trở 

Sóng muốn về với bờ phải vượt qua giông tố bão bùng. Em muốn hướng về anh phải vượt qua những cạm bẫy của cuộc đời. Tình yêu gắn liền với đời thường. Mà cuộc đời là dâu bể đa đoan. Tất cả những thử thách, những gian nan đang chờ em ở phía trước. Và đó là điều không thể thiếu  đối với tình yêu. Em cũng sẽ vượt qua tất cả bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh, tìm thấy hạnh phúc đích thực của đời mình. Cũng như cha ông xưa :

 Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

 Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu đèo cũng qua. Nhà thơ nêu ra những hiện tượng thiên nhiên để khẳng định  quyết tâm của mình

Quyết tâm ấy thiêng liêng như một lời nguyền vàng đá.

(@/ Khổ 8 :Em với một thoáng lo âu)

Tình yêu được tôi luyện như thế là tình yêu đẹp. Tình yêu cao cả nhưng nó lại là một thứ khó giữ và rất mong manh :

Cuộc đời tuy dài thế                               

Năm tháng vẫn đi qua                

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa                          

Biển mênh mông đấy nhưng biển cũng có bờ. Cuộc đời tuy dài thế nhưng không phải là vô hạn bởi năm tháng vẫn di qua, thời gian vẫn trôi chảy. Một thoáng lo âu, mặc cảm khi nhà thơ ý thức được sự ngắn ngủi của cuộc đời. Như vậy, ngay cả khi yêu say đắm nhất, nhà thơ vẫn không hoàn toàn thoát li thực tại.

Trong cái nồng say hết mình vẫn thấp thoáng một dự cảm, lo âu không dứt : Liệu tình yêu có vượt qua được những qui luật tất yếu của cuộc đời không ?

(@/ Khổ 9 : Em khát khao được sống trọn vẹn trong hạnh phúc tình yêu)

Thật khó có thể tìm lời giải đáp. Vậy em chỉ còn cách sống hết mình với nỗi khát khao :

Làm sao được tan ra                         

Thành trăm con sóng nhỏ          

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ                     

  “Làm sao”, đó là niềm mong ước hoá thân. Em muốn tan ra thành những con sóng nhỏ của tình yêu để vỗ mãi ngàn năm trong biển lớn tình yêu.  Cái riêng và cái chung hoà hợp gắn bó vĩnh hằng.                    

Niềm mong ước ấy thật hồn hậu. Tình yêu của lứa đôi, hạnh phúc của lứa đôi chan hoà trong tình yêu rộng lớn của đồng loại, của đất nước, của nhân dân. Có thể nói lời thơ là lời nguyện cầu của một tâm hồn cao cả trong tình yêu. Sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát khao được sống trọn vẹn, sống hết mình trong hạnh phúc tình yêu

 Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể, vừa sinh động, những cung bậc  tâm hồn, tình cảm khác nhau trong tim người phụ nữ đang rạo rực yêu đương.

Sóng là một bài thơ tình vừa duyên dáng vừa mãnh liệt, sôi nổi hồn nhiên trong sáng, vừa ý nhị sâu xa. Bài thơ rất tiêu biểu cho tư tưởng phong cách thơ Xuân Quỳnh giai đoạn đầu

 

 

 

 

Posted in Không phân loại | Tagged: , , , , , , , | Leave a Comment »