Phía trước là chân trời

Archive for Tháng Năm, 2014

Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong “Tây Tiến của Quang Dũng

Posted by thaidung1611 trên 30/05/2014

I/ MỞ BÀI

_ Quang Dũng sinh năn 1921, mất năm1988. Tên thật là Bùi Đình Diệm, người làng Phượng Trì huyện Đan Phượng, Hà Tây

_ Ông là một nghệ sĩ có nhiều tài năng. Thơ của ông trung hậu yêu tha thiết quê hương đất nước mình.

_ Cái tôi trong thơ Quang Dũng hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn

–  Nhà thơ có khả năng cảm nhận và diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên của con người một cách tài hoa tinh tế nhưng cũng rất mực bình dị chân thành.

_Bài thơ Tây Tiến tiêu biểu cho hồn thơ ấy. Không lẩn tránh đề cập đến cái bi nhưng nhà thơ đã đem đến cho nó một cảm hứng lãng mạn, âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Tinh thần bi tráng, cảm hứng lãng mạn đã được triển khai trên nền cảm xúc kí ức một thời Tây Tiến.

II/ THÂN BÀI :

(1/ Xuất xứ chủ đề)

–   Cuối năm1947 Quang Dũng ra nhập đoàn quân Tây tiến, tham gia phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt

–  Địa bàn hoạt động của Đoàn quân khá rộng : Mai Châu, Mộc Châu,Sầm Nứa rồi vòng về miền tây Thanh Hoá.

–  Phần đông họ là những thanh niên trí thức Hà Nội, sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn gian khổ, đánh trận thương vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng họ vẫn chiến đấu rất dũng cảm, vẫn lạc quan yêu đời.

– Cuối năm1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh(Hà Đông cũ), ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau in lại năm 1975, ông bỏ chữ “Nhớ”. Bởi cả bài thơ đã ngập tràn nỗi nhớ niềm tự hào của tác giả về đoàn binh Tây Tiến.

(2/ Cảm hứng lãng mạn)

(a/ Giải thích)

Nếu như các nhà thơ cùng viết về người lính bằng cảm hứng hiện thực với vẻ đẹp hồn nhiên, chân chất giản dị. Thì Quang Dũng lại tạc vào thời gian, vào lịch sử dân tộc hình tượng người lính có một không hai bằng cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng

Có một thời, nhắc đến khái niệm “lãng mạn” người ta thường đồng nhất nó với những gì xa rời thực tế, cá nhân, tiêu cực, mềm yếu… và người ta phản đối, phê phán, thậm chi tẩy chay nó. Nhưng nếu xét đến tận cùng, phần lãng mạn ấy không thể thiếu trong đời sống tinh thần, trong tâm hồn con người và cái gọi là “lãng mạn” ấy cũng thật nhiều vẻ, nhiều hình. Nó có thể làm con người ta nhỏ lại, yếu hèn đi nhưng cũng có thể đem đến cho con người có sức mạnh phi thường để làm nên những điều phi thường.

Cuộc sống tinh thần của mỗi con người hay cả một cộng đồng dân tộc sẽ nghèo nàn, cằn cỗi và nhàm chán biết bao nếu thiếu đi những ước mơ bay bổng, thiếu đi trí tưởng tượng phong phú, diệu kì… Lãng mạn hiểu theo nghĩa đúng đắn, chắp cánh cho những ước mơ, thúc giục con người hướng tới cái đẹp, cái cao cả và sự hoàn thiện mà hiện thực cuộc sống còn chưa đạt tới.Vì nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng liên tưởng. Nên cảm hứng lãng mạn  thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, đối lập, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Trong văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 nó chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới, vẻ đẹp con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

(b/ biểu hiện)

*/Cảm hứng lãng mạn của bài thơ trước hết là nỗi nhớ tha thiết khẵc khoải của tác giả.

Một thời của Tây Tiến tưởng như đã lùi vào kỷ niệm. Nhưng rồi khi ngồi ở Phù Lưu Chanh, trong phút chốc, những kỷ niệm đó lại trở về trong nỗi nhớ thương  cồn cào tha thiết đến mức tác giả không thể kìm nén được đã phải thốt ra lời.

                 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

                 Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Con sông cuồn cuộn chảy giữa những ngày gian truân vất vả của người chiến sĩ Tây Tiến. Nay đã “xa rồi”, đã là quá khứ rồi, nhưng nỗi nhớ thì không thể nào nguôi được, mà dường như nó da diết đến quặn lòng: “Nhớ chơi vơi”. Đó là nỗi nhớ không định hình, khó nắm bắt, khó diễn tả bằng lời. Nhừng nó cũng thật bao la bát ngát lại vừa có chiêu sâu như xoáy vào lòng người.

Tiếng gọi

_“Tây Tiến ơi” vang lên thân thiết như tiếng gọi người thân.

_ Từ cảm “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng tha thiết sâu lắng bồi hồi ngân dài trong lòng người vọng vào thời gian, lan rộng trong không gian

_ Hai tiếng “Xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ hô ứng với điệp từ “nhớ”ở câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây.

Sau tiếng gọi tha thiết ấy biết bao hoài niệm về một thời gian khổ của chiến trường Tây Bắc xưa hiện về trong tâm tưởng của người lính Quang Dũng. Cứ như thế, nỗi nhớ trải dài theo hình sông thế núi, qua những tên bản tên mường với những chặng đường hành quân vất vả :

                                     Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

                                     Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Để rồi vượt lên trên những gian khổ hy sinh, hành trang của người lính  đầy ắp những kỷ niệm đẹp về tình quân dân.

                                   Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

                                   Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Cạnh núi rừng hiểm trở với độ cao rợn người là mái nhà thấp thoáng ẩn hiện trong làn mưa mỏng nơi lưng chừng núi; bên cạnh vùng đất hoang dại chứa đầy bị mật ghê gớm của rừng thiêng với thác gầm thét, cọp trêu người là một bản làng có cơm lên khói, có mùi thơm của cơm nếp xôi và những cô gái xinh đẹp như những bông hoa rừng. Đây là khung cảnh thực của chiến trường Tây Tiến đã được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, hào hoa của những anh lính người Hà thành. “Nhớ ôi”, “cơm lên khói”, đó là tiếng lòng dạt dào của các anh khi nhớ tới cảnh tượng đầm ấm của tình quân dân

*/ Không chỉ có nỗi nhớ, chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến còn chính là cảm hứng bay bổng của nhà thơ hướng tới vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của thiên nhiên và con người Tây Bắc

(_) Trong hoài niệm của nhà thơ, thiên nhiên Tây Bắc trở thành một hình tượng lớn, nhằm tô đậm cái ý chí dấn thân của người lính Tây Tiến

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngủi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Câu thơ hun hút đi lên theo chiều cao của núi rừng

_ Dốc : Dốc lên thì khúc khuỷu gập ghềnh – Dốc xuống thì thăm thẳm như dẫn đến vực sâuè Câu thơ có 5/7 là thanh trắc kết hợp với một loạt từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) gợi cho người đọc cảm giác gồ ghề, lồi lõm, gập ghềnh, cheo leo hiểm trở của dốc núi.

 Đó chính là sự gian khổ mà người lính phải vượt qua. Còn đỉnh núi: mù sương cao vút, núi cao tưởng chừng như chạm tới mây : Cồn mây – Súng ngửi trời. Mây và sương mù tụ lại thành cồn heo hút, người lính đi trên những ngọn núi cao ấy như đi trên những cồn mây, mũi súng như chạm tới đỉnh trời. Mũi súng của người chiến sĩ đã được nhân cách hoá đầy chất lính nhưng cũng thật ngộ nghĩnh hồn nhiên yêu đời “súng ngửi trời”,

Hình ảnh đó khiến ta liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu.Tại đây , cái đẹp của thiên nhiên và con người đã gặp chỗ tương đồng. Thiên nhiên và con người đã trở nên thân thiết đến mức khó tin : Súng(người chiến sĩ) ngửi trời ( thiên nhiên).

Các anh đi trong sương lấp, đêm hơi, vượt dốc cao, vực thẳm lên đến tận cồn mây heo hút trong lam sơn chướng khí, gió núi mưa ngàn. Bao quanh các anh là mọi hiểm nguy như đe doạ, án ngữ bước chân các anh, như chực bóp nát đoàn quân mệt mỏi. Ngoại cảnh sẽ làm các anh chùn bước chăng ? Không! Qua giây phút rợn ngợp ban đầu, các anh lại tiến lên dũng mãnh hơn. Để rồi  khi chiếm lĩnh được mọi tầm cao, dừng chân trên một đỉnh đèo nào đó, phóng tầm mắt ra xa, qua  không gian mù mịt của sương rừng mưa núi, các anh chợt vỡ oà niềm vui sướng hạnh phúc trước cảnh làng quê êm đềm tuyệt đẹp như trải ra trưóc mắt :

+ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Câu thơ toàn thanh bằng êm ả mềm mại, nhẹ nhàng như một làn gió mát làm khô đi những giọt mồ hôi mệt nhọc của các anh,  và trải rộng trước mắt các anh hình ảnh thôn xóm xanh tươi thanh bình hoà lẫn trong làn mưa bụi bay gợi nỗi nhớ quê nhà. Dưới con mắt hào hoa và lãng mạn của người lính Tây Tiến Hà thành, núi rừng sâu thẳm bỗng đẹp lạ kỳ, vẻ đẹp nên thơ và hết sức hào hùng

 Vẻ đẹp ấy được cảm nhận từ một hiện thực gian khổ và đầy khốc liệt, khó khăn. Chính vì thế, chất lãng mạn của bài thơ càng đáng trân trọng, nâng niu. Nói đúng hơn, chính nhờ chất lãng mạn ấy mà người lính Tây Tiến có thể vượt qua được mọi vất vả gian lao, mọi khó khăn thử thách. Chất lãng mạn trong Tây Tiến xuất hiện dường như để lại ”thăng bằng” cho cảnh vật và tâm hồn của con người. Vì thế bên cạnh một thiên nhiên hiểm trở, dữ dằn, những núi đá cheo leo, những cảnh rừng thiêng nước độc… ta lại thấy một thiên nhiên thơ mộng đến say người, một Tây Bắc đẹp như tranh thuỷ mạc:

                                    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                    Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Một dòng sông trong một buổi chiều sương giăng mắc, đôi bờ  lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Và nổi bật trên dòng sông huyền thoại ấy là Hình dáng mềm mại uyển chuyển của người cầm lái trên chiếc thuyền độc mộc cùng hồn lau và hoa đong đưa làm duyên bên dòng nước lũ. Tất cả, người và cảnh đều hài hoà duyên dáng thơ mộng.

èNgòi bút của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Ông không tả cây lau mà chỉ gợi hồn lau. Ông không nhớ  con người Châu Mộc mà nhớ dáng vóc mềm mại của họ in bóng trên sông nước. Không nhớ những bông hoa mà tác giả chỉ nhớ cái ngả nghiêng đong đưa tình tứ của những bông hoa rừng.

→ Qua vài nét loáng thoáng, cảnh vật trong thơ Quang Dũng như có hồn. Nhà thơ không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi ra được cái phần thiêng liêng của cảnh vật

→Cách tự hỏi “có nhớ”, “có thấy” của tác giả đã tạo cho âm hưởng  của khổ thơ man mác bâng khuâng như đang ru hồn ta vào cõi mộng. Chất nhạc, chất hoạ, chất thơ cũng toát ra từ đó. Và cũng qua đây ta càng

→ hiểu thêm vẻ đẹp trong tâm hồn của các chiến sĩ Tây Tiến : Trong gian khổ và thử thách, trong gian truân và chết chóc, họ vẫn lạc quan yêu đời, hồn nhiên và thơ mộng.

Và không chỉ Thiên nhiên Tây Bắc cứ “chơi vơi” trong nỗi nhớ của nhà thơ giữa hai gam màu vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa tươi tắn, thơ mộng .

_Mà chất lãng mạn bay bổng này còn thể hiện rõ khi tác giả khắc họa chân dung người lính Tây Tiến. 

                                 Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                   Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường hay đề cập đến căn bệnh sốt rét  hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí” đã trực tiếp miêu tả căn bệnh này : “Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh. Rét run người vầng trán ướt mồ hôi”. Còn Tố Hữu trong bài “Cá nước”, cũng không quên  căn bệnh quái ác đó : “Giọt giọt mồ hôi rơi. Trên má anh vàng nghệ”. Quang Dũng trong “Tây Tiến” cũng không hề che dấu những gian khổ khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hy sinh lớn lao của người lính. Chỉ có điều tất cả những cái đó không hiện ra một cách trần trụi, mà nó được nhà thơ phản ánh qua cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn.

_ Đoàn binh không mọc tóc : hình ảnh thơ muốn nói đến những người lính đầu trọc lốc.

Phải chăng đây là hình ảnh ly kỳ giật gân, sản phẩm của trí tượng bịa đặt của nhà thơ ? Không ! èChứa đựng trong đó là sự thật nghiệt ngã : các chiến sĩ Tây Tiến người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng cả tóc.

Còn hình ảnh

_  “quân xanh màu lá” thì sao ? Màu xanh ấy là của lá ngụỵ trang hay của màu áo ? Có lẽ cả hai, nhưng cái quan trọng hơnè là nhà thơ muốn nói đến căn bệnh sốt rét rừng. Những ngày đói ăn, thiếu mặc cùng căn bệnh sốt rét đã làm các anh tóc rụng da xanh tiều tụy

Và như thế hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá”đã èphản ánh cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng ngọn tầm vông chống lại sắt thép quân thù.

Nhưng ẩn dưới cái vẻ ngoài tiều tụy ấy, các chiến sĩ Tây Tiến là những người

ốm nhưng không yếu. ở họ toát lên sức mạnh tinh thần phi thường

 “Không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” nhưng

_“dữ oai hùm”,dữ dằn oai phong như hổ. Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” đã nói lên chí khí hiên ngang tinh thần quả cảm. Hình tượng thơ được đặt trong thế ètương phản. Quang Dũng đã lấy cái thô, cái mộc để tô đậm cái oai phong cái dữ dằn của người lính Tây Tiến.Và sự dữ dằn ấy còn được thể hiện qua ánh mắt :

_“Mắt trừng”è Đó là ánh mắt giận dữ, dữ dội, nẩy lửa đầy áp đảo đối với kẻ thù.

Như vậy chỉ với mấy câu thơ,

→Tác giả đã chạm khắc vào lịch sử hình ảnh đoàn quân phi thường độc đáo có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca.

Không chỉ có sức mạnh phi thường các anh còn có đời sống nội tâm phong phú , có những  nét hào hoa mơ mộng gửi về hai phía chân trời:

_ Mộng qua biên giới : mộng tiêu diệt kẻ thù bảo vệ biên cương, mộng lập nên chiến công nêu cao truyền thống anh hùng.

 Còn mơ, những tâm hồn, những trái tim rạo rực yêu đương ấy lại

_ Mơ về Hà Nội dáng kiều thơm.

Nếu người nông dân mặc áo lính của Chính Hữu mang theo nỗi nhớ giếng nước gốc đa, nhớ mái nhà gianh, nhớ ruộng nương, người vệ quốc trong thơ Hồng Nguyên nhớ người vợ trẻ mòn chân bên cối gạo canh khuya, thì người lính trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ ấy gắn với mơ : Mơ dáng kiều thơm

→Mơ tới những tà áo trắng những thiếu nữ thân quen nơi trường xưa phố cũ.

Họ vốn là các sinh siên Hà thành xếp bút nghiên theo việc cung kiếm, giàu lòng yêu nước nhưng cũng rất độ hào hoa “Từ thuở mang gươm đi mở nước, Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Nên sống giữa núi rừng miền Tây ác liệt, cái chết bủa vây, lủa đạn mịt mùng nhưng các anh vẫn mơ về Hà Nội thân yêu. Trong trái tim mỗi người ra trận, làm sao có thể quên được những hàng me hàng sấu. Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thân quen.

→Đó là vầng những sáng lung linh của người lính. Và chính vầng sáng lung linh ấy  đã tạo nên sự cân bằng thư thái trong tâm hồn người chiến sĩ sau mỗi chặng đường hành binh vất vả. Nó không làm thối chí nản lòng các anh mà ngược lại nó như làm tăng thêm sức mạnh, tăng thêm nhiệt tình cách mạng. Bởi các anh là người hiểu hơn ai hết mình chiến đấu vì ai, vì cái gì. Và các anh cũng hiểu hơn ai hết giá trị của tình yêu, của độc lập tự do của một dân tộc được đo bằng chính xương máu của hàng ngàn hàng vạn con người Việt Nam .

( Nhân xét đánh giá) Để giúp cho trí tướng tượng bay cao, bay xa và tình cảm, cảm xúc được diễn tả một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất, nhà thơ đã vận dựng rộng rãi thủ pháp nghệ thuật dối lập giữa cái hùng vĩ, dữ dội với cái tuyệt mĩ, thơ mộng,  giữa gian khổ, vất vả với anh hùng, bất khuất,  giữa cái bi và cái hùng… tô đậm cái phi thường, đồng thời cũng để tạo sự”cân bằng” giữa hai màu sắc – hiện thực và lãng. Sự đối chọi này được thể hiện trong từng câu thơ, từng đoạn thơ cũng như toàn bài thơ

3/Tính chất lãng mạn của bài thơ còn thể hiện ở một phương diện khác. Đó là chất bi tráng. Nhà thơ đề cập đến những mất mát đau khổ, hi sinh nhưng không gợi cho người đọc cảm giác bi quan, chán nản. Cảm xúc, hình tượng trong tác phẩm khỏe khoắn, mạnh mẽ, khơi gợi cho người đọc đến niềm tin, khát vọng về cuộc sống

Sự phi thường nét hào hoa của người lính Tây Tiến không chỉ được thể hiện trong tính cách của họ lúc sống chiến đấu mà còn được thể hiện một cách tập trung sâu đậm qua cái chết bất tử.

                                         Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                               Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Mới đọc qua, ta tưởng như nó chỉ làm nhiệm vụ thông báo bình thường nhưng lại có sức gợi tả thật lớn lao .

+ Từ “rải rác” không những không gợi được sự thưa thớt ít ỏi vốn có của nó mà lại gợi cho người đọc cảm giác nhiều, nhiều vô kể.( rải rác – biên cương – mồ – viễn xứ à gợi ra cảm giác dài  xa xôi hoang vắng )

+ “Mồ viễn xứ”: những ngôi mộ xa xứ. Đồng nghĩa với những ngôi mộ vô chủ không ai hương khói. Cụm từ ấy như xoáy sâu vào lòng người một sự nhức nhối xót xa đến trào nước mắt.

Những ngôi mộ xa xứ kia rồi sẽ ra sao ? Ai là người thắp cho họ nén nhang cho hương hồn họ siêu thoát. Những nấm mồ không tên, những cái chết vô danh vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương xa xôi hoang vắng đến ghê người. Không một giọt nước mắt mẹ già, người thân. Không một lời vĩnh biệt. Thời gian sẽ qua đi, tất cả sẽ xoá nhoà vào lòng đất. Các anh sẽ mãi mãi là những chiến sĩ vô danh, không còn ai nhớ đến chăng ?

 →Câu thơ  mang âm điệu trầm hùng bi tráng phơi bày hiện thực phũ phàng, đưa người ta đến vực thẳm của sự bi quan.

Nhưng mỗi lần như thế, Quang Dũng lại được nâng đỡ bởi đôi cánh của lý tưởng của tinh thần lãng mạn. Chính vì thế mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi kia như bị mờ đi trước lý tưởng quên mình vì tổ quốc của người lính Tây Tiến.

_ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

+ Đời xanh là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng.

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh : Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn . Dường như cái chết đã được đặt ra từ trước, họ đâu có băn khoăn trước sự mất còn. Cái chết với họ nhẹ tựa lông hồng.

èCâu thơ không bi quan uỷ mị mà nó vang lên như một lời thề thiêng liêng cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc theo tinh thần thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính vì thế mà họ bất chấp tất cả gian khổ hi sinh để ra đi chiến đấu một cách kiêu hùng.

_ áo bào thay chiếu anh về đất

  Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Các tráng sĩ giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Còn các chiến sĩ Tây Tiến chỉ có chiếc áo rách vai mà các anh gọi là

+  áo bào :Thực ra đó cũng chỉ là cách nói sang trọng, một cái cười gượng gạo trên môi nhà thơ trước một thực tế quá trần trụi đâu buốt tâm can : Họ hy sinh mà không một manh chiếu che thân.

+ Anh về đất là è các anh đã chết, đã hy sinh.

Chiến đấu giết giặc vì quê hương đất nước, các anh ngã xuống là các anh về đất, là nằm trong lòng đất mẹ Tổ quốc thân yêu. Anh về đất là các anh đã thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình, các anh hoá thân cho dáng hình xứ sở. Anh về đất nghĩa là hồn các anh đã hoà vào cây cỏ, sông núi để trở thành hồn thiêng đất nước.

→Diễn tả về sự mất mát lớn lao mà Quang Dũng nói thật nhẹ nhàng, thật thanh thản. Nhà thơ không dùng từ chết hay hy sinh mà là “về đất” để ca ngợi, để làm bình thường hoá vấn đề và tạo nên vẻ đẹp lãng mạn mang tính chất bi hùng.

Và người lính Tây Tiến ra đi cũng không cần một lời điếu văn, một giọt nước mắt. Mà chỉ có trời đất chứng giám, thu nhận thể xác linh hồn họ vào lòng. Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

+ Động từ “gầm” dội xuống mạnh mẽ tạo nên âm trầm vang như tiếng đạn đại bác tiễn đưa linh hồn người đã khuất về cõi vĩnh hằng, như tiếng kèn đồng trong bài chiêu hồn tử sĩ.

Sông Mã gầm lên như một nghi lễ trang trọng tiễn biệt các anh. Các anh vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Nhưng dòng sông Mã còn mãi cuồn cuộn chảy về xuôi mang theo truyền thuyết về những người con đất Việt anh hùng.

Vẫn là thủpháp nghệ thuật tương phản đối chọi nhau. Bi mà không lụy, buồn đau mà hùng tráng, mất mát hi sinh mà vẫn lạc quan. Và như thế chính chất lãng mạn của bài thơ đã nâng được người đọc lên, vực dậy những người lính mệt mỏi đang “dãi dầu không bước nữa”, xoá tan đi bao nhọc nhằn đau khổ, lãng quên đi bao nỗi hiểm nguy và lấy lại cân bằng trong tâm hôn người lính, giúp họ vững bước đi lên… Chất lãng mạn ấy là sức mạnh và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

III/ KẾT LUẬN

Với bút pháp lãng mạn cốt cách tài hoa, phong độ hào hùng của nhà thơ chiến sĩ, Với cái nhìn nhiều chiều, bằng sự chọn lọc ngôn từ, tinh chọn những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã  tạc lên bức tượng đài tập thể bất tử về người lính vô danh. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài đó, chúng hoà quện vào nhau, nương tựa nâng đỡ cho nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng, thần thái chung của bức tượng đài

 

 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Ôn Hồn Trương Ba da hàng thịt

Posted by thaidung1611 trên 29/05/2014

ĐÊ BÀI : Hoàn cảnh ra đời, tóm tắt tác phẩm, chủ đề tác phẩm

*/ Hoàn cảnh ra đời

Hồn Trương Ba ,da hàng thịt được Lưu Quang Vũ viết năm 1981 nhưng đến năm 1984 mới công diễn và gây được ấn tượng mạnh đối với công chúng trong và ngoài nước. Từ một cốt truyện dân gian ,Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại ,đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.

Văn bản được trích từ cảnh XII và đoạn kết của vở kịch diễn tả sự đau khổ dằn vặt và quyết định cuối cùng vô cùng cao thượng của Trương Ba sau mấy tháng hồn trú nhờ vào thể xác hàng thịt và gặp rất nhiều phiền toái

*/Tóm tắt tác phẩm: 

Trương Ba, một người làm vườn tốt bụng,khoẻ mạnh, giỏi đánh cờ bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốn sửa sai nên Nam Tào và Đế Thích cho hồn Trương Ba sống lại ,nhập vào thể xác hàng thịt vừa mới chết. Trú nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái : lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ…mà bản thân Trương Ba cũng đau khổ vì phải sống xa lạ, giả tạo.Đặc biệt ,thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn không phải là của bản thân ông.Trước nguy cơ tha hoá về nhân cách và sự phiền phức phải mượn thân xác của kẻ khác,Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết.

*/ Chủ đề tư tưởng của đoạn trích :

Qua đoạn trích, Lưu Quang Vũ đã truyền đi bức thông điệp: Được sống làm người quí giá thật nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mà mình vốn có càng quí giá hơn.Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống theo lẽ tự nhiên ,hài hoà thể xác và tinh thần . Con người phải biết luôn đấu tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân ,chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quí.

ĐỀ BÀI  : Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt

Nhan đề của một tác phẩm không chỉ tạo sức hấp dẫn khi khơi lên được sự tò mò nơi người đọc mà còn có ý nghĩa khái quát nội dung toàn tác phẩm.  Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, người sáng tác hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu… Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức.  Và nhan đề Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là một trường hợp như thế.  

Nhan đề của tác phẩm được xây dựng trong nghệ thuật tương phản giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt. Nếu hồn Trương Ba là ẩn dụ biểu tượng cho tâm hồn, cho thế giới nội tâm sâu kín bên trong của con người, là biểu tượng cho vẻ đẹp trong sáng thanh cao; da hàng thịt là ẩn dụ biểu tượng cho vẻ bề ngoài thể xác con người, biểu tượng cho cái xấu xa, cái dung tục tầm thường, cái bản chất thấp kém trong một con người. Thì nhan đề trên không chỉ diễn tả sinh động sự mâu thuẫn giữa thể xác và linh hồn Trương Ba mà còn là sự mâu thuẫn giữa hìnđậm h thức và nội dung của sự vật hiện tượng trong cuộc sống .

Thông qua nhan đề mang tính hình tượng này Lưu Quang Vũ đã phản ánh một hiện thực cuộc sống con người khi bị rơi vào nghịch cảnh, phải sống giả tạo bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo, không được sống đích thực là chính mình.Đồng thời, nhà văn cũng cảnh tỉnh chúng ta : khi không làm chủ được hoàn cảnh, không làm chủ được bản thân để lối sống dung tục tầm thường lấn át lối sống thanh cao trong sáng, để thể xác sai khiến linh hồn, để những ham muốn bản năng thấp kém làm cho nhân cách lệch lạc, nhoà mờ khiến tâm hồn và thể xác không còn là một thể hài hoà thống nhất. Nhan đề hồn Trương Ba da hàng thịt là một hình tượng nghệ thuật đã thâu tóm cả giá trị phản ánh hiện thực lẫn nội dung nhân đạo của tác phẩm

ĐỀ BÀI : Xung đột cơ bản của đoạn trích là gì?

Xung đột của vở kịch được thể hiện trong đoạn trích là xung đột giữa khát vọng sống đúng mình với hoàn cảnh trớ trêu, bó buộc, khiến con người ta trở nên khác lạ với bản thân, hay nói khác đi là bị tha hóa.

ĐÊ BÀI : Đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt thể hiện ý nghĩa gì?

Có thể nói, Trương Ba đã chết một cách vô lý. Ai cũng biết cái chết của Trương Ba là do sự vô tâm và tách trắc của Nam Tào. Nhưng sự sửa sai của Nam Tào và Bắc Đẩu theo lời khuyên của Đế Thích nhằm trả lại sự công bằng cho Trương Ba, lại đẩy anh vào nghịch cảnh vô lý hơn: linh hồn phải trú nhờ trong cơ thể của kẻ khác. Do phải sống nhờ vào thể xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo một số nhu cầu hiển nhiên của xác thịt. Linh hồn nhân hậu trong sạch, bản tính ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay phải sống mượn, tạm bợ và lệ thuộc nên không sai khiến được xác anh hàng thịt. Đáng sợ hơn, linh hồn Trương Ba dần bị nhiễm độc bởi cái tầm thường của xác thịt anh đồ tể. Ý thức được điều đó, hồn Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt để tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào thể xác.

Đoạn đối thoại khẳng định ý nghĩa của sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tính cách và ngoại hình. Đây là một vấn đề có tính khái quát cao, bao trùm nhiều mặt của đời sống xã hội.

ĐÊ BÀI : Đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích thể hiện ý nghĩa gì?

Trương Ba thắp hương gọi Đế Thích xuống trần gian không phải để đánh cờ, mà để thể hiện ý định dứt khoát, quyết liệt nơi nội tâm của mình. Quá trình này diễn ra những trải nghiệm bế tắc và đau đớn.

Câu nói của Trương Ba: “Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. tôi muốn là tôi toàn vẹn”mang một tư tưởng triết học sâu sắc, nó phản ánh sự đòi hỏi thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa tư tưởng và nội dung hành động. Được sống đúng theo bản chất của mình, là một nhu cầu, một quyền lợi thiêng liêng của con người. Việc sống nhờ, sống dựa vào thân xác người khác khiến hồn Trương Ba không được sống thực với con người thật của mình.

ĐÊ BÀI :Ý nghĩa của vở kịch

– Được sống làm người thật là quý, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi thì còn quý hơn.

– Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa về thể xác và tâm hồn.

– Con người phải luôn đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

ĐÊ BÀI : Quan niệm của bản thân qua vở kịch.

– Sống là hướng tới hòa hợp, thỏa  mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần, phù hợp với quy luật cuộc sống. Nếu nghiêng về một trong hai phương diện thì sự thiếu hụt khó bù đắp.

– Được sống là mình, sống thành thực với con người mình, không phải chịu bi kịch sống giả tạo, là một điều hạnh phúc. Nếu không được sống là mình, con người sẽ phải chịu những bất hạnh giằng xé, nhiều khi đến đớn đau, tủi cực. Không được sống là chính mình, con người trở nên giả dối, tha hóa, đó là một bi kịch của cuộc sống.

– Sống có ý nghĩa còn là cuộc sống dám đấu tranh với cái sai trái, cái xấu, biết hi sinh vì người khác.

– Phê phán những biểu hiện sống thiếu ý nghĩa: những hiện tượng sống giả tạo, không dám sống thật với con người mình, thiếu bản lĩnh, ích kỷ, chỉ biết sống cho mình.

ĐÊ BÀI : Bài học rút ra cho bản thân

– Có lí tưởng, có mục đích sống, khát vọng sống cao đẹp.

– Biết yêu thương, thông cảm, chia sẻ.

– Dám sống trung thực với bản thân

ĐÊ BÀI : Qua lớp kịch hồn Trương Ba và gia đình (vợ,cháu gái và con dâu), anh chị thấy nguyên nhân nào đã khiến cho người thân của Trương Ba và cả chính Trương Ba phải rơi vào bất ổn, đau khổ? Trương Ba có thái độ như thế nào trước những rắc rối đó?

-Nỗi đau khổ và tuyệt vọng của Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại với người thân.Người vợ nhất định đòi bỏ đi vì “Ông đâu phải là ông.”Còn cái Gái thì giận dữ vì cái bàn tay giết lợn của ông đã làm gãy chồi non ,bàn chân to bè như cái xẻng giẫm nát cây sâm quý mới ươm trong mảnh vườn của ông nội nó” Chị con dâu sâu sắc hơn biết thương cho hoàn cảnh trớ trêu của bố chồng nhưng rồi cũng nói “chính con cũng không nhận ra thầy nữa.”

-Nguyên nhân khiến cho người thân của Trương Ba và chính ông rơi vào bất ổn là bởi Trương Ba bây giờ đã thay đổi khi phải sống trong cái xác của hàng thịt. Hình ảnh ,thói quen thô lỗ của anh hàng thịt không sai,không xấu nhưng nó chỉ thích hợp với bản thân một đồ tể thôi, còn với gia đình Trương Ba và cả chính bản thân Trương Ba thì không thể chấp nhận được vì nó quá xa lạ với họ.

-Nhân vật hồn Trương Ba bây giờ rơi vào cái thế bị mọi người xa lánh, sự tồn tại của ông vì thế mà trở nên vô nghĩa, thậm chí nặng nề ,bức bối.

ĐÊ BÀI :: Hãy chỉ ra sự khác nhau trong quan niệm của Trương Ba và Đế Thích về ý nghĩa của sự sống. Theo anh (chị ),Trương Ba trách Đế Thích ,người đem lại cho mình sự sống : “Ông cứ nghĩ là cho tôi sống, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần biết!” có đúng không?Vì sao? Màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích toát lên ý nghĩa gì?

Những lời độc thoại nội tâm của Trương Ba cho thấy thái độ quyết liệt của nhân vật này khi muốn thoát khỏi tình trạng giả tạo xác một nơi hồn một nẻo của mình : “Có thật là không có cách nào khác?” và sự khẳng định dứt khoát: “Không cần cái đời sống do mày mang lại ! Không cần!. Đây là lời độc thoại dẫn tới quyết định châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
-Cuộc trò chuyện giữa Trương Ba và hàng thịt trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc,về lẽ sống và cái chết.Lời thoại sau đây thật có ý nghĩa:

“Sống nhờ vào đồ đạc của cải của người khác đã là chuyện không nên, đừng này đên cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống chứ sống như thế nào thì ông cũng chẳng cần biết !”

àKhi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá ,khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Đế Thích có cái nhìn khá hời hợt về cuộc sống của con người nói chung và của Trương Ba nói riêng. Nhân vật Hồn Trương Ba đã ý thức sâu sắc về tình cảnh bi hài của mình và quyết tâm giải thoát.

ĐÊ BÀI :Khi Trương Ba cương quyết đòi trả xác cho hàng thịt, Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị, Trương Ba đã từ chối .Vì sao?

-Khi Trương Ba cương quyết đòi trả xác cho hàng thịt, Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị, Trương Ba đã từ chối .Đây là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hồn Trương Ba thử hình dung mình lại nhập vào xác cu Tị và thấy rõ bao nhiêu sự rắc rối vô lí lại tiếp tục xảy ra. Tình thương mẹ con Cu Tị cũng là một nguyên nhân khiến ông nhanh chóng quyết định dứt khoát xin Đế Thích gọi hồn cu Tị trở về. Hành động bẻ bó nhang của ông cho thấy ông là con người nhân hậu, có quyết định dứt khoát và tự trọng ,hiểu ý nghĩa của cuộc sống.

-Cái chết của cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ mở nút một cách hợp lí bởi nếu chậm thì việc cứu cu Tị sẽ không còn kịp nữa

ĐÊ BÀI :Cảm nghĩ của anh chị sau khi đọc đoạn kết ?

Trương Ba đã trả lại xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để linh hồn được trong sạch và hoá thân vào những sự vật thân thương ,tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những người thân yêu của mình. Cuộc sống lại trở về với qui luật vốn có của nó. Màn kết với chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng thanh thoát cho một bi kịch lạc quan và truyền đi thông điệp về sự chiến thắng của sự sống đích thực, của chân , thiện ,mỹ.

ĐỀ BÀI : Màn kết cảnh VII của vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” là hình ảnh nào? Ý nghĩa?

a/ Màn kết cảnh VII của vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” là hình ảnh:
– Cảnh khu vườn của Trương Ba, Trương Ba hóa thân vào những hình ảnh quen thuộc trong gia đình: “Ánh lửa bà nấu cơm,con dao bà giẫycỏ,cầu ao bà vo gạo,trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu”.

– Cu Tị sống lại và đang cùng ngồi với cái Gái trong khu vườn. Cái Gái “Lấy hạt na vùi xuống đất…”cho nó mọc thành cây mới.Ông nội tớ bảo thế. Những cây sẽ nối nhau mà khôn lớn.Mãi mãi…”

b. Ý nghĩa:

– Đoạn kết giàu chất thơ thể hiện tinh thần lạc quan của vở kịch. Trương Ba chết nhưng hình ảnh của Trương Ba bất tử, bởi ông đã có chỗ để phục sinh. Đó chính là sự phục sinh trong trái tim của những người thân yêu.
– Tác giả gửi gắm thông điệp về cuộc sống: sự sống thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên,hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Hạnh phúc của con người là chiến thắng được bản thân, chiến thắng sự dung tục, hoàn thiện được nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý

ĐÊ BÀI :Dựa vào đặc điểm thể loại KỊCH,em hãy nêu đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm?

-Đối thoại kịch đậm chất triết lí, giàu kịch tính đã góp phần tạo nên chiều sâu cho vở kịch ( đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, người thân Trương Ba và Đế Thích …

-Hành động kịch của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh , tính cách, góp phần phát triển tình huống truyện (thoát xác, đốt hương , bẻ hương…).

– Những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật hồn Trương Ba góp phần thể hiện rõ tính cách nhân vật và quan niệm về lẽ sống đúng đắn

ĐÊ BÀI :Phân tích xung đột kịch để làm nổi bật triết lý nhân sinh cũng như vẻ đẹp nhân cách của nhân vật Trương Ba

I/ MỞ BÀI :

  Trong làng kịch nói ViệtNam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ – một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh… nhưng ông được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt nam hiện đại. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.

 Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt.

II/ THÂN BÀI

(1/ Xuất xứ chủ đề, tóm tắt tác phẩm)

Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công diễn lần đầu tiên năm 1984, sau đó được diễn lại nhiều lần trong và ngoài nước. Từ cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người. Trong tác phẩm, Trương Ba là một ông lão gần sáu mươi, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã, giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan. Theo lời khuyên của “tiên cờ” Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” bằng cách cho hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà. Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba vào một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ vào người khác. Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình. Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt. Qua các cuộc đối thoại của Trương Ba, tác giả dần tạo nên một mạch truyện dẫn dắt người xem hiểu sâu hơn về Trương Ba

Đoạn trích là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm.

2/ Phân tích các xung đột kịch 

(a/ Màn đối thoại đối giữa  Hồn – Xác.

*/Tình huống dẫn đến đối thoại Hồn – Xác.)

 Sau mấy tháng sống trong tình trạng “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thoát ra khỏi nghịch cảnh trớ trêu.

+ Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn thiết:

“- Không. Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”.

(*/ Phân tích đối thoại Hồn – Xác.)

Bức xúc vì phải sống nhờ trong thân xác người hàng thịt, vì mình không còn là mình nữa, hồn Trương Ba đòi thoát ra khỏi vỏ bọc kềnh càng thô lỗ. Nhưng xác hàng thịt cho rằng linh hồn mờ nhạt của Trương Ba không thoát khỏi thân xác mình được vì xác thịt có tiếng nói của mình nhiều khi còn sai khiến, lấn át cả linh hồn. Hồn Trương Ba lại cho rằng Linh hồn có đời sống riêng : Nguyên vẹn trong sạch và thẳng thắn;   xác là cái “không có tiếng nói”, “âm u đui mù”, “chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có nghĩa lí gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”, hoặc nếu có thì “chỉ là những thứ thấp kém” chứ không thể có được sự “cao khiết” như tâm hồn được.

– Xác hàng thịt đưa ra lí lẽ: “Hai ta đã hoà với nhau làm một rồi ông phải tồn tại nhờ tôi; tôi cho ông sức mạnh; tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn; nhờ có tôi mà ông có thể làm lụng cuốc xới, ngắm nhìn trời đất, cảm nhận thế giới và vì thế linh hồn không thể chối bỏ được thân xác mà còn phải biết “chiều” theo những đòi hỏi của thân xác, thoả mãn những thèm khát” của xác thịt.

– không chỉ có vậy, thể xác còn an ủi vuốt ve lòng tự ái của linh hồn  bằng cách đổ cho hoàn cảnh và tự nhận lỗi về mình: Những lúc có một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong điều xấu gì ông cứ việc đổ lỗi cho tôi, để ông được thanh thản…miễn là ông vẫn làm đủ mọi việc để thoả thãm những thèm khát của tôi ! Trước những “lí lẽ ti tiện” của xác thịt, Trương Ba đã nổi giận, đã khinh bỉ, đã mắng mỏ xác thịt hèn hạ nhưng đồng thới cũng ngậm ngùi thấm thía nghịch cành mà mình đã lâm vào, đành nhập trở lại vào xác thịt trong tuyệt vọng.

Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí bởi xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật (cái đêm khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “ cổ nghẹn lại” và “suýt nữa thì…”. Đó là cảm giác “xao xuyến” trước những món ăn mà trước đây Hồn cho là “phàm”. Đó là cái lần ông tát thằng con ông “tóe máu mồm máu mũi”,…) Dù muốn hay không muốn Hồn vẫn phải thừa nhận sự xấu hổ, sự ti tiện của mình.  Vì thế hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu

+ Còn xác anh hàng thịt thắng thế nên rất hể hả cười nhạo vào cái lí lẽ mà hồn Trương Ba đưa ra để ngụy biện: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn,…”. Lời thoại của xác hành thịt dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc.

Qua cuộc dối thoại với xác anh hang thịt, ta thấy Trương Ba là người có phẩm chất cao đẹp: luôn tự hào về đời sống tâm hồn của mình; dũng cảm nhìn thẳng vào sự tha hoá của bản thân; nỗ lực đấu tranh với nghịch cảnh, với dục vọng tầm thường để vươn tới những giá trị tinh thần cao quý

(*/ Nhận xét:)

Với  màn đối thoại dặc sắc này, Lưu Quang Vũ đã tạo ra một tình huống nghệ thuật đặc sắc, giàu tính biểu tượng.

Xác hàng thịt là ẩn dụ về thể xác của con người. Hồn Trương Ba là ẩn dụ về linh hồn con người.  Cuộc đối thoại giữa xác hàng thịt và hồn Trương Ba thực chất là cuộc đấu tranh giữa thể xác và linh hồn trong một con người.Thể xác và linh hồn là hai thực thể có quan hệ hữu cơ.Thể xác có tính độc lập tương đối, có tiếng nói của nó, có khả năng tác động linh hồn, linh hồn phải đấu tranh với những đòi hỏi không chính đáng của thể xác. Đây là xung đột giữa cái phàm tục với cái thanh cao, giữa nội dung và hình thức, giữa linh hồn và thể xác trong một con người. Đây cũng là cuộc đấu tranh dai dẳng giữa hai mặt tồn tại để hoàn thiện nhân cách bản thân

 Vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác trong đoạn trích có thể khiến ta liên tưởng đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong mỗi sự vật của đời sống. Khi nội dung và hình thức phù hợp với nhau thì sự vật cùng tồn tại và phát triển,khi nội dung và hình thức không phù hợp với nhau thì sự phát triển bị kìm hãm.Hình thức là phương tiện biểu hiện nội dung, nội dung đóng vai trò chủ đạo và quyết định.Sự vật luôn cần có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức cũng như con người luôn cần có sự hài hoà giữa thể xác và linh hồn.

Thông qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, tác giả muốn gửi gắm một thông điệp giàu giá trị triết lí: Sống phải là chính mình, không thể sống thay người khác. Mỗi người có một nhu cầu, ham muốn riêng, không thể bắt con người theo những điều giả dối. Sự sống chỉ có ý nghĩa khi con người có sự hài hoà giữa đời sống thể xác và đời sống tinh thần. Để sống có ý nghĩa, con người cần biết đấu tranh với cái dung tục, tầm thường, giả dối, vươn lên cái thật, cái đẹp của cuộc đời.

(b/ Màn đối thoại giữa Trương Ba với người thân )

(*/ Tình huống dẫn đến đối thoại)

+ Hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ)

 bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa.

(*/ Phân tích đối thoại )

 Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Ông cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái tuyệt vọng khi ông đối thoại với những người thân

– Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ đi. Với bà “đi đâu cũng được… còn hơn là thế này”. Bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng đã cảm nhận được: “ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”.

– Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là cháu ông… Ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thể chấp nhận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy”. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”.

– Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, “khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”

Tất cả những người thân yêu của Hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ trêu. Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ khổ nhưng “cũng không khổ bằng bây giờ”.

+ Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của mình đã khiến Hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Ông lâm vào bi kịch : không được người thân thừa nhận. Sự tha hóa, biến chất của bản thân  làm cho gia đình ông trao đảo có nguy cơ tan vỡ. Với Trương Ba mất gia đình, ý nghĩa sống còn đâu nữa. Trong đau khổ tuyệt vọng, hồn nhận rõ hiện thực chua chát ấy  cứ lớn dần… lớn dần, khiến ông muốn đứt tung, muốn bứt phá.

(*/ Nhận xét:)

+ Như vậy, màn kịch này là sự tô đậm, khắc sâu bi kịch mà Trương Ba phải gánh chịu, bi kịch của một người phải sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá chứ không được là chính mình. Và ở đây, tình huống kịch đã thúc đẩy Trương Ba phải lựa chọn, phải quyết định

+ Nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát nhưng cũng đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.

Gặp lại Đế Thích, Trương Ba thể hiện thái độ kiên quyết chối từ, không chấp nhận cái cảnh phải sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo nữa và muốn được là mình một cách toàn vẹn “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Lúc đầu Đế Thích ngạc nhiên nhưng khi hiểu ra thì khuyên Trương Ba nên chấp nhận vì thế giới vốn không toàn vẹn, dưới đất, trên trời đều thế cả. Nhưng Trương Ba không chấp nhận lí lẽ đó. Trương Ba thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích: “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần biết”. Sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chấp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Lòng tốt hời hợt thì chẳng đem lại điều gì thực sự có ý nghĩa cho ai mà sự vô tâm còn tệ hại hơn, nó đẩy người khác vào nghịch cảnh, vào bi kịch! Đế Thích định tiếp tục sửa sai của mình và của Tây Vương Mẫu bằng một giải pháp khác, tệ hại ít hơn là cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị. Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống và thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra…Ông đã kiên quyết từ chối, không chấp nhận cái cảnh sống giả tạo, mà theo ông là chỉ có lợi cho đám chức sắc tức lão lí trưởng và đám trương tuần, không chấp nhận cái cuộc sống mà theo ông là còn khổ hơn là cái chết. Trương Ba kêu gọi Đế Thích hay sửa sai bằng một việc làm đúng, đó là trả lại linh hồn cho bé Tị. Đế Thích cuối cùng cũng đã thuận theo đề nghị của Trương Ba với lời nhận xét: “Con người hạ giới các ông thật kì lạ”. Quyết định dứt khoát xin Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến Hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống.

Cái chết của cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ “mở nút”. Dựng tả quá trình đi đến quyết định dứt khoát của nhân vật Hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lí của tác phẩm.

Như vậy,  cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích không chỉ chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, vênh lệch giữa hồn và xác,cũng như quyết tâm giải thoát của mình.Mà qua cuộc đối thoại này, tác giả còn gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết . Theo Lưu Quang Vũ,con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa.

Và cũng qua cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích, kịch củảLưu Quang Vũ mở ra những thông điệp vừa trực tiếp, vừa ngầm ẩn, vừa mãnh liệt vừa kín đáo về thời đại chúng ta đang sống : : khi con người phải sống trong dung tục thì tất yếu cái dung tục sẽ ngự trị,  lấn át và sẽ tàn phá những gì trong sạch, đẹp đẽ, cao quý trong con người. Và cũng qua xung đột kịch, Lưu Quang Vũ khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp con người trong sự chống lại sự dung tục, giả tạo để bảo vệ quyền được sống toàn vẹn hợp lẽ với tự nhiên và nhân cách. Chất thơ của kịch Lưu Quang Vũ cũng được bộc lộ ở đây.

 (d/ Đoạn kết )

   Hành động chấp nhận cái chết, trả lại xác cho anh hàng thịt là một hành động đúng đắn, dũng cảm và đạo đức .Nó xuất phát từ niềm tin mãnh liệt của Trương Ba vào cuộc sống. Và màn kết cảnh VII của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” đã thể hiện được điều đó

– Cảnh khu vườn của Trương Ba, Trương Ba hóa thân vào những hình ảnh quen thuộc trong gia đình: “Ánh lửa bà nấu cơm,con dao bà giẫy cỏ,cầu ao bà vo gạo,trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu”.

– Cu Tị sống lại và đang cùng ngồi với cái Gái trong khu vườn. Cái Gái “Lấy hạt na vùi xuống đất…”cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo thế. Những cây sẽ nối nhau mà khôn lớn.Mãi mãi…”

( → Ý nghĩa: )

– Đoạn kết giàu chất thơ thể hiện tinh thần lạc quan của vở kịch. Trương Ba chết nhưng hình ảnh của Trương Ba bất tử, bởi ông đã có chỗ để phục sinh. Đó chính là sự phục sinh trong trái tim của những người thân yêu.

– Tác giả gửi gắm thông điệp về cuộc sống: sự sống thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên,hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Hạnh phúc của con người là chiến thắng được bản thân, chiến thắng sự dung tục, hoàn thiện được nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý

Qua các màn đối thoại trên, ta thấy Trương Ba là người biết quí trọng nhân cách. Bị thân xác anh hàng thịt sỉ nhục, bọn cường hào nhũng nhiễu, lời người con dâu “mỗi ngày thầy một đổi khác dần mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhoà mờ dần đi..”. TB có thể chấp nhận tồn tại thân xác duy trì sự sống trong cái vỏ của người khác, song là một con ngưòi có nhân cách nên TB rơi vào bi kịch.Và khi đã lựa chọn đựơc, đã quyết định đúng đắn, con người TB trở về đúng nghĩa là mình: Lạ thật từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là TB thật, tâm hồn tôi trở lại thanh thản trong sáng như xưa (tr43).Từ đó ta có thể thấy đây là điều quý giá nhất bởi nếu không được sống đúng là mình con người sẽ rơi vào bi kịch, họ phải đau khổ dằn vặt và đó là điều đáng sợ nhất. Không chỉ  yêu quý vợ con, mà Trương Ba còn có lẽ sống cao đẹp, “ông tưởng tôi không ham sống hay sao? Nhưng sống thế này còn khổ hơn là cái chết….Cuộc sống giả tạo này có lợi cho ai, hoạ chăng chỉ lão lí trưởng và đám trương tuần hỉ hả thu lợi lộc. Và điều người đọc luôn khâm phục Trương Ba chính là ở chỗ : không khuất phục trước thể xác, trước những điều xấu xa , dũng cảm đối mặt với cái chết.Trước lời lẽ và sự thuyết phục của Đế Thích,TB vẫn thể hiện một thái độ kiên quyết: ở đâu cũng đựoc, nếu ông không giúp tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi cũng chẳng còn, xácanh hàng thịt cũng mất.

Từ đó TB đi tới một quyết định sáng suốt đúng đắn: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được.Tôi muốn là tôi toàn vẹn”. Một câu nói tưởng nhu đơn giản song đó là cả một sự đấu tranh cả một niềm ước vọng mọi người sẽ nhớ tới mình đúng là TB của ngày xưa, mình vẫn là mình cho dù đã hình dung tất cả sự hư vô khủng khiếp của cái chết.Chính vì vậy TB đã lựa chọn: Trả lại thân xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết., dũng cảm đối mặt với cái xấ u xa, kiên cường giữ vững phẩm giá để mình được sống thành thực là mình

  III. KẾT BÀI

Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt” chứng tỏ tài năng kiệt xuất của Lưu Quang Vũ trong việc kết hợp kịch bản văn học và kịch bản sân khấu. Đoạn trích cho thấy nghệ thuật tạo dựng và phát triển xung đột kịch, cách giải quyết tình huống và thể hiện tính cách nhân vật sắc sảo của Lưu Quang Vũ. Từ đó gửi đến người đọc bức thông điệp về cuộc sống: cuộc sống và được sống làm người là quí giá thât nhưng được sống làm mình, sống trọn vẹn hòa hợp giữa thể xác và tâm hồn còn quí giá hơn. Con người luôn phải đấu tranh với nghịch cảnh. Đó là triết lí nhân sinh sâu sắc góp phần tạo sức hấp dẫn của tác phẩm, sự tỏa sáng của tác giả

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Một số nhan đề tác phẩm cần lưu ý

Posted by thaidung1611 trên 29/05/2014

1/NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM  VỢ NHẶT

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất . Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, người nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu… Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức.  Và Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp như thế.

Tác phẩm có tiền thân là “Xóm ngụ cư”. Hòa bình lập lại, tác giả viết lại dựa vào cốt truyện cũ, và đặt  tên là “Vợ nhặt”,được in trong tập “Con chó xấu xí.

Ngay nhan đề của tác phẩm đã gây được sự chú ý đặc biệt bởi sự kết hợp độc đáo của nó. Vợ là danh từ chỉ người hơn nữa còn là một người có vai trò rất quan trọng trong gia đình.”

Người xưa cho rằng tậu trâu, lấy vợ làm nhà, Trong ba việc ấy thực là khó thay. Còn”nhặt” là động từ thường liên quan đến vật, những thứ không ra gì. Để có vợ, người ta hỏi, phải cưới với bao sính lễ nhiêu khê, còn Tràng thì “nhặt” được vợ. Đem cái quí giá thiêng liêng kết hợp với thứ rẻ rúng là Kim Lân muốn thể hiện thảm cảnh khốn cùng của người dân trong nạn đói 1945 : thân phận con người như cỏ rác, có thể nhặt được ngoài đường ngoài chợ.

Nhưngvợ cũng chính là biểu trưng của hạnh phúc. Cho dù là nhặt ở ngoài đường thì bản thân “vợ” cũng đã gợi   ra một tổ ấm gia đình. Và như thế với sự kết hợp có vẻ như oái oăm vô lý, nhan đề của tác phẩm vừa gợi ra được tình huống éo le của câu chuyện, vừa gợi ra được số phận con người năm đói, cũng như khát vọng hướng tới một mái ấm gia đình của họ.

 “Vợ nhặt” là một nhan đề làm ám ảnh lòng người

2/ NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, tác giả có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất . Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, người sáng tác hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu… Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức.  Và nhan đề Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là một trường hợp như thế.  

Nhan đề của tác phẩm được xây dựng trong nghệ thuật tương phản giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt. Nếu hồn Trương Ba là ẩn dụ biểu tượng cho tâm hồn, cho thế giới nội tâm sâu kín bên trong của con người, là biểu tượng cho vẻ đẹp trong sáng thanh cao; da hàng thịt là ẩn dụ biểu tượng cho vẻ bề ngoài thể xác con người, biểu tượng cho cái xấu xa, cái dung tục tầm thường, cái bản chất thấp kém trong một con người. Thì nhan đề trên không chỉ diễn tả sinh động sự mâu thuẫn giữa thể xác và linh hồn Trương Ba mà còn là sự mâu thuẫn giữa hìnđậm h thức và nội dung của sự vật hiện tượng trong cuộc sống .

Thông qua nhan đề mang tính hình tượng này Lưu Quang Vũ đã phản ánh một hiện thực cuộc sống con người khi bị rơi vào nghịch cảnh, phải sống giả tạo bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo, không được sống đích thực là chính mình.Đồng thời, nhà văn cũng cảnh tỉnh chúng ta : khi không làm chủ được hoàn cảnh, không làm chủ được bản thân để lối sống dung tục tầm thường lấn át lối sống thanh cao trong sáng, để thể xác sai khiến linh hồn, để những ham muốn bản năng thấp kém làm cho nhân cách lệch lạc, nhoà mờ khiến tâm hồn và thể xác không còn là một thể hài hoà thống nhất. Nhan đề hồn Trương Ba da hàng thịt là một hình tượng nghệ thuật đã thâu tóm cả giá trị phản ánh hiện thực lẫn nội dung nhân đạo của tác phẩm
3/ NHAN ĐỀ CỦA ĐOẠN TRÍCH     Hạnh phúc của một tang gia

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Hạnh phúc của một tang gia” thuộc chương XV trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một trường hợp như thế.

Ngay nhan đề của tác phẩm đã gây được sự chú ý đặc biệt bởi sự kết hợp độc đáo của nó.

Tên đầy đủ của chương truyện  là : Hạnh phúc của một tang gia , Văn Minh nữa cũng nói vào, một đám ma gương mẫu…

 Hạnh phúc là niềm vui, sự mãn nguyện

 Tang gia là gia đình có người vừa mất. Không khí bao trùm gia đình này là sự sầu thương não nề.

Tang gia mà lại hạnh phúc! Nhà có người chết mà lại vui. Hai khái niệm này khó có thể tồn tại bên nhau Ấy vậy mà Vũ Trọng Phụng đã kết hợp chúng với nhau. Nghe ra có cái gì đó thật vô lý, thật oái oăm ! Đọc tên của chương truyện, chúng ta không khỏi bật cười bởi cách thông báo hóm hỉnh của nhà văn. Nội dung sự việc là đau đớn, bất hạnh. Vậy mà “tang gia” lại có ”hạnh phúc”! Mà lại là hạnh phúc to lớn cứ đầy ăm ắp, tràn ra không nén nổi, vì cái chết của cụ Tổ  “đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”,, vì “cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành” và cũng là vì cái đại gia ấy có dịp để khoe của, khoe giàu phô cái sang cho thiên hạ biết. “Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…”, “tang gia ai cũng vui vẻ cả”.  Việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy mà, ngôn từ của tác giả dành nó lại hỗn độn, pha trộn chữ Hán, chữ Nôm, nào hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương mẫu. cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy! Và sự vui đùa ấy đó mở màn cho vở hài kịch mà trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cuời: đám tang nhưng không phải là đám tang, mà là một đám…. rước. Con người nhưng không phải là con người mà là…. những hình nhân dị dạng, những quái vật. Và cũng bằng sự vui đùa ấy, tác giả đó miêu tả đám tang cụ cố Tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở VN những năm 30 – 45 của thế kỉ XX

Nhan đề của một tác phẩm (hay một đoạn trích),  không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà trong đó nó chứa đựng nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Chương XV : Hạnh phúc của một tang gia (số đỏ của Vũ Trọng Phụng) là một nhan đề như thế.

 4/  NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Chí Phèo

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Chí Phèo” của Nam Cao là một trường hợp như thế.

Ngay nhan đề của tác phẩm đã gây được sự chú ý đặc biệt bởi sự kết hợp độc đáo của nó.

_ Nhan đề đầu tiên của tác phẩm là Cái lò gạch cũ, phải chăng tác giả muốn nói đến sự  luẩn quẩn bế tắc gắn với hình ảnh Chí Phèo ở đầu truyện, khi còn là thằng bé đỏ hỏn được cuốn trong một cái váy đụp vứt ở cái lò gạch bỏ hoang và hình ảnh cuối truyện : Thị Nở sau khi nghe tin Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự sát đã nhớ lại những lúc gần gũi với hắn và nhìn nhanh xuống bụng rồi thoáng thấy hiện ra cái lò gạch cũ bỏ không ở nơi vắng người qua lại ? Có thể sẽ có một Chí Phèo con ra đời cũng ở cái lò gạch ấy để “nối nghiệp” bố. Như vậy “Cái lò gạch cũ” như là biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm

_ Nhưng khi in thành sách năm 1941, nhà xuất bản Đời Mới tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Nhà xuất bản muốn hướng sự chú ý của bạn đọc vào mối tình của Chí Phèo và thị Nở, một con quỉ dữ của làng Vũ Đại “mặt mũi bị vằn dọc, vằn ngang” và một mụ đàn bà xấu “ma che quỉ hờn”. Cách đặt tên như thế là rất giật gân, gây sự tò mò, phù hợp với thị hiếu của lớp công chúng thời bấy giờ.

_ Mãi đến năm 1946, tác giả mới đặt lại tên là Chí Phèo. Với cái tên này, Nam Cao không chỉ vạch ra số phận bi thảm của Chí Phèo mà quan trọng hơn, nhà văn còn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của Chí Phèo

Nhan đề của một tác phẩm (hay một đoạn trích),  không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà trong đó nó chứa đựng nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm. “Chí Phèo” của Nam Cao là một nhan đề như thế.

 5  NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Chữ người tử tù

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là một trường hợp như thế.

“Chữ người tử tù” được xem là một trong những kiệt tác của Nguyễn Tuân nói riêng và của văn học lãng mạn Việt Nam 1932-1945 nói chung. Tác phẩm được in trong tập “Vang bóng một thời”, nhằm ca ngợi hai chữ “Thiên lương” trong sáng

“Chữ người tử tù”. Truyện ban đầu có tên là “Những dòng chữ cuối cùng”.  Với nhan đề này thì người yêu văn sẽ cảm thấy bi quan về số phận của một con người sắp bị chém đầu. Và việc cho chữ của Huấn Cao chẳng khác nào việc để lại tài sản của người sắp chết cho người còn sống.

          Bằng sự nhạy cảm về nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã đổi “Những dòng chữ cuối cùng” thành “Chữ người tử tù”. “Chữ” là nói đến phông kiến thức của một con người tài cao học rộng, còn “Người tử tù” là nói đến một người tù phạm tội đang chờ thọ án chém đầu. “Chữ người tử tù” hé mở cho bạn đọc thấy số phận cũng như nhân cách của nhân vật : Một người tử tù tài ba học rộng tài cao, một nhân cách lớn. Và như thế, với cách đặt nhan đề này, nhà văn không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi cái tài, của người nghệ sĩ viết chữ đẹp – Huấn Cao. Mà còn ông còn phát hiện, khẳng định cái “tâm” trong sáng của người nghệ sĩ : biết sáng tạo và cũng biết trân trọng cái đẹp. Cái “tâm” đó không chỉ tồn tại trong con người Huấn Cao mà nó còn được thể hiện qua nhận vật Quản ngục – một con người phụng sự cái đẹp. Nếu xét trên bình diện của xã hội thì rõ ràng Huấn Cao và viên quản ngục ở hai vị thế khác nhau. Thế nhưng một khi đã yêu cái đẹp, đam mê cái đẹp thì con người ta có thể từ bỏ tù hận trở thành tri âm tri kỉ.

“Chữ Người Tử Tù”, chỉ có bốn âm tiết mà Nguyễn Tuân đã gợi cho người yêu văn nhiều điều. Ông xứng đáng là nhà văn của “chủ nghĩa duy mỹ”.

6/NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Rừng xà nu

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một trường hợp như thế.

 Rừng xà nu được viết 1965, khi quân Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam

_ Tác phẩm được đăng lần đầu trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội Giải Phóng miền trung Trung Bộ, số 2, 1965. Sau được đưa vào tập truyện và ký Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc 1969.

Với tác phẩm này, nhà văn có thể lấy không gian của truyện để đặt tên đặt tên như “Làng Xô-man” hay “Tnú”- nhân vật chính của truyện. Nhưng nếu như vậy truyện sẽ mất đi tính khái quát và gợi mở.

  “Rừng xà nu”- Tên tác phẩm không chỉ có ý nghĩa thực, miêu tả đặc điểm và sức sống bất diệt của loài cây xà nu, gợi khí vị khó quên của núi rừng Tây Nguyên, mà còn mang ý nghĩa tượng trưng, biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân làng Xô man , của con người Tây nguyên thời đánh Mỹ. Hai ý nghĩa này hòa quyện vào nhau làm nổi bật cảm xúc của nhà văn cũng như linh hồn tư tưởng chủ đề của tác phẩm.

7/  NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Chiếc thuyền ngoài xa

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một trường hợp như thế.

 Tác phẩm được sáng tác 8/ 1983. Tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự, nhìn hiện thực đa chiều, bao gồm cả những qui luật tất yếu lẫn những cái ngẫu nhiên rủi ro khó bề lường hết, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tình yêu tha thiết đối với  những cảnh đời, nhưng thân phận trớ trêu của con người và gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật : Nghệ thuật chân chính phải luôn gắn bó với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách đơn giản,  một chiều mà phải nhìn nhận cuộc sống con người một cách đa diện, nhiều chiều. Với thông điệp ấy, ông đã đặt nhan đề cho tác phẩm của mình là “Chiếc thuyền ngoài xa”

Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là biểu tượng của nghệ thụât. Đó là thứ nghệ thụât đạt tới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức khi chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình như được thanh lọc.

– Nhưng khi về gần bờ, chiếc thuyền là không gian sinh sống của gia đình người hàng chài, lại là hiện thân của cuộc đời lam lũ, khó nhọc, thậm chí của những éo le, trái ngang

– Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng cuộc đời thì lại rất gần. Người nghệ sĩ cần có một khoảng cách nhất định để khám phá và thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thụât nhưng lại cũng cần bám sát thực tế để phát hiện ra những sự thật của cuộc sống. Xa và gần, bên ngoài và sâu thẳm…đó cũng là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.

– Nhan đề là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật !

8/ NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Những đứa con trong gia đình

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên . Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất. Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là một trường hợp như thế.

Tác phẩm được viết vào tháng 2/ 1966, ngay trong những ngày nhân dân miền Nam chiến đấu ác liệt chống đế quốc Mĩ

Thông qua hồi ức của Việt –  thành viên của một gia đình cách mạng, nhà văn muốn ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình nói riêng cũng như của nhân dân miền Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Với thông điệp như thế, Nguyễn Thi đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là “Những đứa con trong gia đình”

– Những đứa con ở đây vừa là Việt và Chiến – thế hệ trẻ sinh ra và trưởng thành trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ ác liệt, cũng vừa là những con người, những thế hệ (ba má Việt, chú Năm, Chiến, Việt..) trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc.

– Hai chữ gia đình trong nhanđề không chỉ là cái gia đình nhỏ của hai chị em Chiến, Việt mà còn là cả một dòng họ, là đại gia đình gồm nhiều thế hệ .Nhưng Những đứa con trong gia đình còn có thể hiểu là các thế hệ người dân miền Nam trong đại gia đình miền Nam ruột thịt, là lớp lớp con người Việt Nam yêu nước thương nhà trong gia đình tổ quốc thân yêu đang vùng lên mạnh mẽ trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

– Nhan đề Những đứa con trong gia đình còn ẩn chứa cách lí giải của nhà văn về sức mạnh tinh thần kì diệu củacon người Việt Nam thời chống Mĩ và quan niệm của ông về người anh hùng: họ không chỉ là sản phẩm của thời đại mà còn là sự tiếp nối, kế thừa và phát huy một truyền thống, một di sản thiêng liêng mà các thế hệ cha anh đã truyền lại

Những đứa con trong gia đình là một nhan đề gợi nhiều ý nghĩa

9/NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM “Ai đã đặt tên cho dòng sông

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên .

Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất. Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức . Và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của  Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trường hợp như thế.

Ai đã đặt tên cho dòng sông” được viết ngay sau chiến thắng mùa xuân 1975in trong tập bút kí cùng tên. Nhà văn muốn thông qua vẻ đẹp huyền thọai của dòng sông Hương bộc lộ tình yêu quê hương đất nươc trong chiều sâu của lịch sử văn hóa. Với thông điệp ấy,ông đã chọn cho đứa con tinh thần của mình một cái tên thật đẹp, thật ấn tượng :  “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?”

 Nhan đề tác phẩm là một câu hỏi, diễn tả một thoáng ngẩn ngơ rất thi sĩ của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi đứng trước vẻ đẹp thiên phú của một dòng sông. Và cũng bằng câu hỏi đó ông dẫn dắt người đọc đi tìm câu trả lời bằng cách trở về với huyền thoại đẹp của dòng sông : Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm kể lại rằng vì yêu quí con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi”.Không ai khác, chính những người dân bình thường – những con người sáng tạo ra văn hóa, lịch sử “đã đặt tên cho dòng sông”. 

Nhan đề của tác phẩm là một câu hỏi và kết thúc tác phẩm cũng là câu hỏi, phải chăng nhà văn không chỉ muốn lưu ý người đọc về cái tên đẹp của dòng sông: sông thơm. Mà ông còn gửi gắm khát vọng của con người muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử cho quê hương đất nước, gợi lên niềm biết ơn đối với những người đã khai phá miền đất này

 

 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

Posted by thaidung1611 trên 29/05/2014

NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG BẬC THÀY của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia 

 “Số đỏ”, “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học”.Với Số đỏ, người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê, thoải mái. Nhưng cũng với Số đỏ người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời, cái xã hội gì, cái lũ người gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân bạc ác đến thế.

Với nghệ thuật trào phúng bậc thày, mỗi chương của tác phẩm Số đỏ chính là màn hài kịch. Chương XV Hạnh phúc của một tang gia là một trong những màn hài kịch đặc sắc nhất

Để dàn dựng một màn hài kịch cười, tác giả trước hết phải tạo ra được một

a/ Tình huống gây cười.Và Vũ Trọng Phụng đã làm được điều đó thông qua một đám ma gương mẫu

Trong cuộc sống có rất những hoàn cảnh điển hình giúp ta hiểu được nhân cách của một con người, cũng như bản chất của một xã hội. Đám ma là một sự kiện như thế. Bởi hơn ở đâu hết, thái độ của con người trước cái chết của người thân của đồng loại,chiều sâu của sự xót thương ấy cũng là chiều sâu phẩm chất người.  Vũ Trọng Phụng đã dùng cái chết của người thân làm phép thử độ sáng của đạo hiếu trong gia đình, dùng cái chết đồng loại làm phép thử độ sáng của tình người. Để qua đó phơi bày tất cả sự đồi bại của xã hội thượng lưu trưởng giả mà thực chất chỉ là một xã hội ma cà bông với những diễn viên hài siêu hạng như Xuân Tóc Đỏ Phán mọc sừng….

b/ Để triển khai tình huống, dàn dựng một màn hài kịch cười, tác giả trước hết phải phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng, phóng đại nó lên. Và tiếng cười được bật ra từ đó. Đúng như vậy, trong suốt toàn bộ đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã tập hợp và miêu tả những tâm trạng, hành vi, cách ứng xử, thái độ hoàn toàn trái với chuẩn mực đạo đức thông thường.

*/ Mà dụng tâm đầu tiên của nhà văn là ở nhan đề của đoạn trích

Nhan đề của một tác phẩm (hay một đoạn trích),  không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà trong đó nó chứa đựng nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Chương XV : Hạnh phúc của một tang gia (số đỏ của Vũ Trọng Phụng) là một nhan đề như vậy.Tên đầy đủ của chương truyện  là : Hạnh phúc của một tang gia , Văn Minh nữa cũng nói vào, một đám ma gương mẫu…

+ Hạnh phúc là niềm vui, sự mãn nguyện

+ Tang gia là gia đình có người vừa mất. Không khí bao trùm gia đình này là sự sầu thương não nề.

Tang gia mà lại hạnh phúc! Nhà có người chết mà lại vui!

Hạnh phúc và tang gia, hai khái niệm này khó có thể tồn tại bên cạnh nhau. Ấy vậy mà Vũ Trọng Phụng đó kết hợp chúng với nhau. Đọc tên của chương truyện, chúng ta không khỏi bật cười bởi cách thông báo hóm hỉnh của nhà văn. Nội dung sự việc là đau đớn, bất hạnh. Vậy mà “tang gia” lại có ”hạnh phúc”! Mà lại là hạnh phúc to lớn cứ đầy ăm ắp, tràn ra không nén nổi, vì cái chết của cụ Tổ  “đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”,, vì “cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành” và cũng là vì cái đại gia ấy có dịp để khoe của, khoe giàu phô cái sang cho thiên hạ biết. “Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…”, “tang gia ai cũng vui vẻ cả”.  Việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy mà, ngôn từ của tác giả dành nó lại hỗn độn, pha trộn chữ Hán, chữ Nôm, nào hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương mẫu. cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy! Và sự vui đùa ấy đó mở màn cho vở hài kịch mà trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cuời: đám tang nhưng không phải là đám tang, mà là một đám…. rước. Con người nhưng không phải là con người mà là…. những hình nhân dị dạng, những quái vật. Và cũng bằng sự vui đùa ấy, tác giả đó miêu tả đám tang cụ cố Tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở VN những năm 30 – 45 của thế kỉ XX

*Không chỉ có vậy, nét độc đáo của (tình huống truyện) nghệ thuật trào phúng còn được thể hiện ở chỗ: tác giả đó miêu tả đám tang cụ cố Tổ – một đám ma gương mẫu trong sự đối lập giữa hình thức với nội dung, giữa giả và thật.

Bề ngoài là một đám ma to tát và long trọng “có thể làm cho người chết năm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không cũng gật gù cái đầu”. Đám ma được tổ chức linh đình, đủ kiểu cách, lễ nghi theo cả lối ta, tây, tàu.Đám ma rất to, to chưa từng thấy ở đất Hà thành xưa nay. Có đủ cả kiệu bát cống, lợn quay đi lọng; vài ba trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa, vài trăm người đi đưa.  Đám đi đến đây làm huyên náo đến đó Kèn ta, kèn tây, kèn tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên…

Nhưng thực chất chỉ là một sự lừa bịp vĩ đại. Cả đám đeo cái mặt lạ lớn hợp thời trang : kẻ thì “đăm đăm chiêu chiêu”, kẻ thì “đau khổ một cách rất chính đáng, có thể tự tử được”, kẻ thì oặt người đi khóc hứt hứt hứt mãi không thôi, không phải để thương xót kẻ xấu số . Đám bạn bè cụ Cố Hồng :  có dịp khoe những bộ ngực đầy huân, huy chương và những bộ râu ria mốt nhất. Trong tiếng kèn ai oán của đám tang, người ta nghe thấy tiếng thì thầm với nhau về những chuyện vợ con, chuyện sắm một cái áo, cái tủ…. bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, “than thở” việc “vợ béo, chồng gầy”.

 _ Đám giai thanh gái lịch hà thành đang trên con đường Âu hóa : Họ đi vừa đi đưa tang vừa cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau… và mỉa mai thay họ làm tất cả điều đó bằng vẻ mặt buồn rầu của người đi đưa đám ma.

_ Người dân hai bên đường :  đổ xô ra xem như xem một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cũng cảm thấy hết sức sung sướng và hàng phố nhốn nháo cả lên khen đám ma to

_ Còn người thân trong gia đình, ngoài được chia gia tài, họ còn có nhu cầu riêng. Cụ cố Hồng  – con trai cả của người chết.Với vị trí này, trách nhiệm của ông là lo ma chay của cha mình cho chu tất nhưng những hành động cụ thể của ông ta lại hoàn toàn trái ngược. Ông nằm dài, hút thuốc phiện và mơ màng theo khói thuốc. Ông nghĩ đến việc cưới chạy cho cô con gái Tuyết nhưng lại đùn đẩy việc cưới xin cho vợ. Cái danh mà ông mơ ước và tô vẽ là gia thế của một gia đình nề nếp, gia phong, danh gia vọng tộc. Vì thế ông đã tỏ ra già cả dù chưa đến 60 để được gọi là “ cụ Cố”. Ông sẵn sàng mùa hè mặc áo bông, trả nhầm tiền xe để chứng minh mình lẩm cẩm; luôn gắt gỏng để chứng tỏ mình già cả, ốm yếu. Nghĩ đến cái chết của bố mình, ông sung sướng đến độ đê mê nên “ đã nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!” và khen “ một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế”… Tấm lòng của người con trơ như khúc gỗ, vô cảm trước cái chết của người cha. Vai trò và tình cảm của một đứa con trong ông đã chết bởi ông chỉ nghĩ đến cái gậy mà thôi!t

Văn Minh là đứa cháu đích tôn, là “ nhà cải cách xã hội” danh giá thì sung sướng tột đỉnh vì “ Thế là từ nay, cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Mọi hành động của Văn Minh đều đối lập với trách nhiệm và tình cảm của một người cháu. Hăn mời luật sư đến chứng kiến cái chết của ông nội để đảm bảo tính pháp lí của chúc thư. Hắn còn nghĩ đến cách đối xử với Xuân Tóc Đỏ mà thực chất là tìm cách bịt miệng vì Xuân Tóc Đỏ biết những bí mật tày đình. Ông quan niệm tội bôi nhọ danh dự của người thân trong gia đình là tội nhỏ và tội làm chết người thân trong gia đình mới là cái ơn lớn. Để trả cái ơn to lớn ấy, Văn Minh đã dùng hạnh phúc trăm năm của cô em gái lá ngọc cành vàng để trả ơn cho một kẻ vô học. Ở Hắn tồn tại sự mâu thuẫn giữa cái bên ngoài là vẻ mặt “đăm đăm chiêu chiêu” của cái bối rối lo lắng rất hợp thời trang nhà có tang với cái bên trong là việc nghĩ cách đối xử với người đã mang đến cái “ ơn to” cho gia đình.

Cô Tuyết, cô cháu gái giữ gìn nửa chữ trinh, mới chỉ hư hỏng được một nửa. Mặt cô phảng phất vẻ buồn lãng mạn vì nhớ nhung nhân tình chứ không phải xót thương ông nội. Đám tang mang đến niềm hạnh phúc cho cô vì cô được mặc bộ y phục “ Ngây thơ” để chứng tỏ phẩm giá mới chỉ đánh mất nửa chữ trinh. Bộ y phục nửa kín nửa hở làm cho các ông tai to mặt lớn bạn của cụ cố Hồng cảm động thực sự, còn hơn cả “ những khi nghe tiếng kèn Xuân nữ ai oán, não nùng”

Cậu tú Tân thì “cứ điên người lên vì cậu đã sẵn sang mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến”. Ông nội chết là dịp để cậu trỏ tài đạo diễn, chụp ảnh trong dịp đám tang. Cậu tỏ ra là một tài tử chụp ảnh, những chiếc máy ảnh được chuẩn bị từ lâu nay sẽ có dịp dùng đến. Cậu và bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mộ khác nhau để chụp ảnh ở những khoảnh khác nhau. Cậu đạo diễn mọi người gục đầu, cong lưng, khóc rồi đóng kịch xót thương cho đúng không khí đám tang

Ông Phán mọc sừng là con rể của cụ cố Hồng. Ông ta sung sướng vì “ không ngờ ràng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông lại to đến như thế’, nó có giá đến “ vài nghìn đồng” Đông Dương. Phán trù tính ngay một cuộc doanh thương với Xuân Tóc Đỏ để nhân cái số vốn ấy lên. Là một diễn viên đại tài, ông Phán đã hoàn thành xuất sắc màn kịch vờ khóc thương ông vợ. Ngay cả Xuân Tóc Đỏ- kẻ chuyên đi lừa đảo người khác cũng bị lừa, chỉ đến khi hắn dúi vào tay tờ 5 đồng gấp tư Xuân mới hiểu ra bộ mặt thật của Phán

Cái khó của nhà văn là phải lật tẩy sao cho người ta thấy rõ cái giả ấy đã đành mà còn phải thấy cả tính chất lập lờ giữa cái giả với cái thật.

à Mâu thuẫn thật-giả không chỉ được nhà văn khai thác khá triệt hai lớp hình ảnh chồng lên nhau khi miêu tả sự kiện đám tang: vỏ ngoài y như thật, với tất cả hình thức hợp thời trang nhất, bên trong hoàn toàn trống rỗng. Mà còn ở chỗ, ông đã vận dụng sáng tạo bút pháp điện ảnh trong việc miêu tả đám tang gương mẫu . Để tô đậm trong lòng người đọc một đám ma to tát và long trọng, nhà văn đã lùi ra xa để quay viễn cảnh Đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy….”, “Đám cứ đi…”, “Đám cứ đi” . Cũng có lúc tác giả như tiến lại gần hơn để thu cận cảnh làm cho người ta có thể soi vào từng góc khuất, hay hành vi, chi tiết nhỏ nhất để thấy hết cái giả dối, rởm đời, nhố nhăng, kỳ quặc và “vô nghĩa lý” của cái đám tang này . “Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh, song le sự thật thì vẫn thì thầm với nhau chuyện trò về vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may.”, hoặc: “Xuân Tóc Đỏ muốn bỏ quách ra thì chợt thấy ông Phán dúi tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư…. Vậy là, nhìn từ cự ly xa nhà văn thâu tóm được trung thành cái bề ngoài có vẻ giống thật, thậm chí rất “gương mẫu”, “to tát” của đám ma. Còn nhìn từ cự ly gần, thật gần nhà văn đã lật tẩy cái giả, cái thực chất chứa đựng và được che đậy ở bên trong của nó: sự bất hiếu, bất nghĩa và thói đạo đức giả. Tiếng cười đã bật ra, rất tự nhiên, từ mâu thuẫn thật- giả này.

Không chỉ có vậy, giọng điệu mỉa mai, chua chát là giọng điệu bao trùm chươngtruyện. Câu văn mở đầu đoạn trích hàm chứa một sự đối chiếu thật – giả rất thâm thúy: “Ba hôm sau, ông cụ già chết thật.”. Nhìn từ phía tác giả, câu văn này ẩn giấu một nụ cười châm biếm (chết mà cũng có “chết thật”, chết giả?). Nhìn từ phía nhân vật (đám cháu con chí hiếu) nó ẩn giấu một tiếng reo mừng. Cụ tổ hẳn đã có những phen “chết giả” làm cho đám cháu con kia hụt hẫng thất vọng, và cả tang gia đã chờ đợi cái “chết thật” này quá lâu rồi. Cho nên, khi ông cụ “chết thật” thì người ta tất phải vui sướng hạnh phúc tột cùng. Và, tang gia “ai cũng” “hạnh phúc”, “vui vẻ cả”…, nhận xét này đã vang lên trong chương truyện như là một dụng ý đầy mỉa mai

Điệp khúc “Đám cứ đi” hẳn còn ám ảnh mãi với người đọc. Câu văn tưởng như là giọng trần thuật khách quan bình thản. Nhưng khi nhắc đến hai lần “ Đám cứ đi” , thì nó đã mang ý nghĩa mỉa mai châm biếm đám ma thật to, thiên hạ tha hồ ngắm thật kĩ cái giả dối, vô nhân đạo của đám người ấy. “ Đám cứ đi” nghĩa là sự vô liêm sỉ không khép lại mà kéo dài tưởng như vô tận.Đám ma của cụ Tổ hay là một đám rước ? Đám rước của “đám tai to mặt lớn Hà thành hay chính một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm lúc bấy giờ

Về ngôn từ, tác giả đã sử dụng những kết hợp từ độc đáo trong các câu văn để tạo nên tiếng cười hài hướcnhư “ vẻ buồn lãng mạn đúng mốt”, “chưa đánh mất cả chữ trinh”; những so sánh gây cười như “ Tuyết như bị kim châm vào lòng vì không thấy bạn giai đâu cả”….

Với nghệ thuật trào phúng bậc thày, Vũ Trọng đã vạch trần bản chất xấu xa của xã hội thượng lưu tư sản thành thị đương thời. Đó là một xã hội băng hoại đạo đức, khô héo tình người, chạy theo lối sống văn minh rởm, vô cùng đồi bại, lố lăng. Đằng sau tiếng cười không phải niềm vui mà là nỗi đau đời , là khao khát đổi thay, muốn chôn vùi xã hội ấy. 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Một số tình huống truyện cần lưu ý

Posted by thaidung1611 trên 29/05/2014

A/ TÌNH HUỐNG TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

Đối với truyện ngắn

*/ tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại,

nó chính là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện dặc biệt, khiến cho tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất.

Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn : tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính chất bước ngoặt của nhân vật (Vợ chồng A Phủ ), tình huống tâm trạng chủ yếu  khám phá diễn biến tình cảm cảm xúc của nhân vật (Vợ nhặt), thì

*/tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Ở Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo ra một tình huống nghịch lý, oái oăm, trớ trêu. Nhờ tình huống này mà tính tư tưởng của tác phẩm mới được thể hiện rõ.

sự kiện người đàn bà làng chài kiên quyết từ chối khỏi người chồng bạo ngược là một cái gì đó vừa vỡ òa trong đầu vị bao công của phố huyện vùng biển. Nên tác phẩm có tình huống nhận thức.

*/ Trước đó Phùng nhìn đời bằng con mắt của người nghệ sĩ. Chính trong giây phút tâm hồn thăng hoa với những cảm xúc lãng mạn nhất, bất ngờ anh chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ, sự cam chịu của người đàn bà, rồi phản ứng của thằng Phác, sự đau đớn và xấu hổ của người mẹ với con, người mẹ được mời đến tòa án huyện và kiên quyết từ chối việc giải thoát khỏi lão đàn ông. Tất cả nhưng chi tiết đó đều nhằm chuẩn bị cho sự nhận thức mới mẻ của Đẩu và cũng là của Phùng “có một cái gì đó vỡ òa trong đầu vị bao công”. Phùng đã có cách nhìn đời khác hẳn. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình làng chài ấy, hiểu thêm tính cách người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu thêm bản chất người đồng đội của mình và hiểu thêm cả chính mình nữa.

*/Tình huống truyện đã được Nguyễn Minh Châu được đẩy lên cao trào và ngày càng xoáy sâu hơn nữa để phát hiện tính cách con người, phát hiện sự thất cuộc đời

B /TÌNH HUỐNG TRUYỆN Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Đối với truyện ngắn

*/ tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại,

nó chính là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến cho tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất.

*/ Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn : tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính chất bước ngoặt của nhân vật (Vợ chồng A Phủ ), tình huống tâm trạng chủ yếu  khám phá diễn biến tình cảm cảm xúc của nhân vật (Vợ nhặt), thì

*/tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật.

*/ Và ở “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân đã dựng lên một thế giới tối tăm tù ngục, trong đó kẻ tiểu nhân bọn độc ác bất lương làm chủ.Trên cái nền tảng tối tăm ấy hiện lên ba đốm sáng lẻ loi,cô đơn HC, QN và viên thư lại.Những con người có tài và biết trọng tài,có nghĩa khí và biết trọng nghĩa khí. Họ tình cờ gặp nhau trong tình huống éo le. Trong quan hệ xã hội , họ đối địch với nhau. Trong quan hệ văn hóa đạo lí, họ là những người yêu cái đẹp và trọng cái đẹp

Quan hệ giữa họ vì thế có những diễn biến đầy kịch tính. Từ chỗ ngờ vực, đối địch nhau dần dần đến hiểu nhau và quí trọng nhau. Và cũng trên cái nền đó mỗi nhân vật dần bộc lộ những tích cách của mình

C/ TÌNH HUỐNG TRUYỆN     Vợ nhặt của Kim Lân

Đối với nghệ thuật viết truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ làm nổi bật tâm trạng, tư tưởng tính cách của các nhân vật và chủ đề tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt.

*/ Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại,

nó chính là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến cho tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất.

*/ Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn : tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính chất bước ngoặt của nhân vật (Vợ chồng A Phủ ), tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật (Chiếc thuyền ngoài xa) .

*/ Thì tình huống tâm trạng chủ yếu  khám phá diễn biến tình cảm cảm xúc của nhân vật . Với tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân đã tạo ra được một tình huống như thế

@/ Vợ nhặt đã tạo ra được một tình huống truyện độc đáo ngay trong việc Tràng có vợ

_ Truyện xảy ra trên bối cảnh của năm Ất dậu, năm đói khủng khiếp.

Cái đói bắt đầu tràn đến xóm ngụ cư. Trên con đường khẳng khiu, dưới ánh sáng nhập nhoạng mù mờ không ra sáng không ra tối hẳn của buổi chiều tà chạng vạng, hiện ra vật vờ, ủ rũ những người “đói xanh xám như những bóng ma”. “Người chết như ngả rạ”. Bao trùm bầu không khí là “mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. “Giữa cái cảnh tối sẫm lại vì đói khát ấy”, giữa lúc cuộc sống mấp mé bên bờ cái chết, giữa lúc cuộc đời đang bị đẩy sát tới ranh giới phân chia của sự tồn tại và không tồn tại, giữa cõi dương lởn vởn hơi hướng của cõi âm thì :

_ Tràng, một người hoang sơ xấu xí, nhà nghèo, dân ngụ cư lại lấy được vợ.

Đã từ lâu, ở xóm ngụ cư này đã quá quen với thân hình vập vạp thô kệch cùng với cái cười hềnh hệch vô hồn của Tràng. Trong tiềm thức của dân làng, người như Tràng làm sao có thể lầy được vợ. Nhưng ai ngờ chiều nay, bên cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén và e thẹn. Hắn đã lấy được vợ. Không ! tràng nhặt được vợ hẳn hoi, chẳng phải cưới cheo gì mới oách chứ ! Chuyện thật mà tưởng như đùa, bởi nó trái với quan niệm dân gian “tậu trâu lấy vợ làm nhà. Trong ba việc ấy thật là khó thay”. Trong bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một tình huống thật táo bạo : Tràng nhặt được vợ. Và như thế cái thiêng liêng trở thành cái rẻ rúng có thể nhặt được.

Và chính điều kì lạ ấy tạo nên

@/ Sự éo le trong tâm trạng của mọi người : Không biết nên vui hay buồn.

Việc Tràng có vợ trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt đã khiến

*/ Cả xóm ngụ cư phải ngạc nhiên

Sự tò mò soi mói cứ lan dần theo từng bước của Tràng và người đàn bà trên con đường xơ xác

_ Lũ trẻ xóm ngụ cư : chúng phát hiện ra điều kì lạ này đầu tiên, chúng gào lên châm chọc “Anh Tràng ơi… Chông vợ hài”

_ Người lớn cũng xì xào bàn tán. Chuyện đáng ra phải vui, phải mừng bởi “có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát tối tăm… của họ” nhưng trong cảnh tối sầm lại vì đói khát”, họ không biết nên mừng hay nên lo cho anh. Người thì khẽ thở dài ái ngại, người thì thầm hỏi nhau, người thì ngại ngùng lo xa “Ôi chao ! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không”. Mặc cho những những lời bàn tán, Tràng vẫn lần bước dưới gốc cây đa cây gạo sù sì có những người đói đi lại như những bóng ma thay cho các quan khách, tiếng quạ gào lên thê thiết từng hồi thay cho những tràng pháo cưới.

Tràng có vợ không chỉ gây ấn tượng mạnh cho xóm ngụ cư mà ngay

*/ Bà cụ Tứ cũng rất ngạc nhiên

_ Làm sao kể xiết sự sững sờ của bà khi có người đàn bà đứng ngay đầu giường con mình lại chào mình bằng u

Bà không thể nghĩ rằng Tràng lại có vợ ngay trong cái thời đói kém này. “Bà cứ hấp háy cặp mắt cho đỡ nhèo vì tự dưng bà lão cứ thấy nhoèn ra thì phải”

_ Khi hiểu ra sự tình, bà vừa mừng vừa lo cho con “biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được con đói khát này không” 

_ Nhưng bà vẫn hi vọng “may ra qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ”. Hi vọng đấy nhưng lòng mẹ vẫn

_ không giấu nổi nỗi lo

“Bà lão nhìn người người đàn bà, lòng đầy thương xót”. Miêu tả tâm trạng mừng tủi của bà cụ Tứ, Kim Lân không chỉ đẩy tính tình huống của truyện lên đến đỉnh điểm mà còn làm cho câu chuyện Tràng lấy được vợ thấm đẫm tình người : Trong cái rủi có cái may, trong hoạn nạn có phần hạnh phúc an ủi.

*/ Tràng có vợ bất ngờ với chính cả Tràng

Từ đùa hóa ra thật, khiến

_ Tràng cũng không tin nổi “nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải như thế. Ra hắn đã có vợ”.  Có vợ cũng khiến

_ Tràng vừa mừng vừa chợn “thóc gạo này đến cái thân mình còn chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”

Tóm lại: Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy được vợ quả là một tình huống oái oăm, ta sẽ mừng hay lo; buồn hay vui cho cặp vợ chồng này ? hạnh phúc của họ thật mong manh tội nghiệp trong không khí ảm đạm của sự đói khát và chết chóc. Nhưng chính tình huống oái oăm ấy đã tạo cảm hứng, tạo chi tiết để Kim lân có thể viết lên những trang thật cảm động và cũng hết sức nhân đạo về câu chuyện nhặt được vợ của Tràng

D/ TÌNH HUỐNG TRUYỆN     Những đứa con trong gia đình của  Nguyễn Thi

Đối với nghệ thuật viết truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ làm nổi bật tâm trạng, tư tưởng tính cách của các nhân vật và chủ đề tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt.

*/ Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại,

nó chính là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt, khiến cho tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất.

*/ Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn : tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính chất bước ngoặt của nhân vật (Vợ chồng A Phủ ), tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật (Chiếc thuyền ngoài xa) .

*/ Thì tình huống tâm trạng chủ yếu  khám phá diễn biến tình cảm cảm xúc của nhân vật . Với tác phẩm Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi đã tạo ra được một tình huống như thế

Những đứa con trong gia đình là một trong những thiên truyện ngắn xuất sắc nhất và tiêu biểu nhất của Nguyên Thi.

Tác phẩm kể chuyện một gia đình cách mạng, mọi thành viên đều là những chiến sĩ diệt Mĩ kiên cường. Người mẹ nuôi con lớn lên để rửa thù cho cha. Những đứa con giành nhau nhập ngũ để trả thù cho ba má…Một câu chuyện cảm động nhưng khá nặng nề, dễ đơn điệu và trùng lặp. Nguyễn Thi đã vượt qua được thử thách đó thông qua một tình huống truyện độc đáo : Việt- một chiến sĩ giải phóng quân trẻ, trong một trận đánh, bị thương nặng, lạc đồng đội, phải nằm lại một mình trên chiến trường, mênh mông đầy bóng tối – bóng tối của màn đêm và bóng tối của đôi mắt bị thương. nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại.

 Chính trong những lần ngất đi rồi tỉnh lại, tất cả những gì thân thương nhất của gia đình Việt đã hiện về sống động, ấm áp trong dòng nội tâm của anh. anh nhớ đồng đội, nhớ chị, nhớ chú Năm, nhớ những ngày ba má còn sống, nhớ những buổi bắn chim, câu cá bắt ếch, nhớ những ngày cùng chị lên đường nhập ngũ. Cứ như thế câu chuyện được thuật lại qua dòng hồi tưởng khi đứt khi nối vì nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại của Việt.  Đây là một tình huống tâm trạng. Câu chuyện không diễn ra theo trật tự thời gian, không gian tự nhiên mà theo lôgíc chủ quan của tâm trí nhân vật.

Chẳng hạn,

+ Việt tỉnh dậy lần thứ hai lúc trời “lất phất mưa”. Việt cảm thấy “hơi gió lạnh đang lùa trên má” vàà nghe thấy tiếng “ếch nhái kêu dậy lên”. Chính cái âm thanh có thực vang lên giữa chiến trường đêm tối mênh mông ấy đãà gợi cho Việt nhớ đến những ngày ở quê, những đêm như đêm nay hai chị em hai cái đèn soi, lóp ngóp đi bắt ếch, “cười từ lúc đi cho tới lúc về”. Và khi “đổ ếch vào thùng,à chú Năm thế nào cũng sang”. Thế là mạch hồi tưởng rất tự nhiên chuyển sang chú Năm, và cũng rất tự nhiên nói đếnà cuốn gia phả của gia đình. Đến đây dòng hồi tưởng đột ngột đứt vì Việt một lần nữa lại bị ngất đi.

+ Dòng hồi tưởng tiếp theo của Việt lại được bắt đầu khi “Việt choàng dậy” nghe thấy tiếng trực thăng phành phạch bay từng đàn trên đầu và tiếng súng nổ từng loạt ngắn ở phía xa. Việt nhận ra đã là ban ngày vì ngửi thấy mùi nắng và nghe thấy “tiếng chim cu rừng gù gù đâu đây”. Tiếng chim àgợi nhớ chiếc ná thun hồi ở nhà Việt thường xách đi bắn những con cu cổ đeo những chấm xanh đỏ óng ánh như cườm. Thế rồi, àchiếc ná thun lại dẫn Việt trở về với những kỉ niệm về người mẹ giàu lòng vị tha, mà rất đỗi hiên ngang bất khuất…

Cứ như thế,è theo dòng hồi tưởng của Việt cứ đứt lại nối, qua đó mà mở rộng dần đối tượng được miêu tả và mỗi lúc lại càng đi sâu hơn vào đời sống nội tâm nhân vật, làm hiển hiện lên vừa cụ thể, vừa sinh động những gương mặt tiêu biểu  của những người con trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng.

 

 D

 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Sinh nhật Thuận Thiên

Posted by thaidung1611 trên 27/05/2014

Chúc cháu sinh nhật vui vẻ – hạnh phúc và thành công

sinh-nhật-tt

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Câu hò và cuốn sổ gia đình của chú Năm

Posted by thaidung1611 trên 25/05/2014

*/ Nếu sức chinh phục của hình tượng nghệ thuật là ở sự truyền cảm thì góp phần quyết định tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc ấy là nhờ chi tiết nghệ thuật.

 

Chi tiết nghệ thuật truớc hết là những yếu tố về ngôn ngữ, lời văn được dùng để diễn tả nội dung tư tưởng của tác phẩm.. Nếu trong thơ, chi tiết có thể là một từ như: “Vèo”  (Thu điếu – Nguyễn Khuyến), một hình ảnh tu từ như: “Hồn tôi là một vườn hoa lá”  (Từ ấy – Tố Hữu) v.v… Thì trong tác phẩm tự thì chi tiết có thể là lời nói của nhân vật, bộ điệu, cử chỉ, nét mặt, đồ vật, cảnh tượng, hoặc có khi là một tình tiết của cốt truyện.

 

*/Đọc“Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, chúng ta mãi không thể quên giọng hò và cuốn sổ gia đình của chú Năm

 

“Chú hay kể về sự tích của gia đình và cuối câu chuyện thế nào chú cũng hò lên mấy câu… những câu nói về cuộc đời cơ cực của chú và những chiến công của đất này”.

 

Những lúc chú hò không đơn thuần chỉ là giải khuây, mà qua “giọng hò đã đục và tức như tiếng gà gáy” ấy, ta thấy có cái gì đó thật trang nghiêm, thật tha thiết, “gân cổ chú nổi đỏ lên, tay chú đặt lên vai Việt, đôi mắt chú mở to, đọng nước, nhìn thẳng vào đôi mắt Việt, đầu lắc lư, nhắn nhủ, làm như Việt chính là nơi cụ thể để chú gửi gắm những câu hò…”Thì ra, những tấm áo vá quàng, con sông dài cá lội, người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công…không đơn thuần là những câu ca réo rắt mà là ngọn nguồn, là hồn thiêng của cha ông đang nhập vào chú Năm để truyền đến đời con cháu. Những giá trị đạo lí, tình nghĩa, thuỷ chung gửi gắm qua từng câu hò đã thấm vào tâm hồn hai chị em Chiến và Việt, hun đúc tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước cho chị em, đồng thời nó cũng là nguồn cổ vũ hai chị em trong chiến đấu.

 

Không chỉ truyền lại truyền thống cho con cháu qua những câu hò mà chú còn có cả một cuốn sổ gia đình

 

Gọi là cuốn sổ nhưng nó thực sự là một thứ biên niên sử của gia đình. Mà điều thú vị là ở chỗ ,nó được viết ra từ một ngòi bút thực sự bình dân, “chữ viết lòng còng”, lời văn mộc mạc. Nhưng chính cái thô mộc vụng về lại là những bằng chứng nóng hổi về nợ máu của kẻ thù và sự dũng cảm kiên cường của dòng họ trong chiến đấu

 

*/ Mặc dù truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” có rất nhiều chi tiết hình ảnh xúc động. Nhưng giọng hò và cuốn sổ gia đình của chú Năm sẽ mãi là những ấn tượng không phai trong lòng người đọc

 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Hai chị em Chiến Việt khiêng bàn thờ má

Posted by thaidung1611 trên 25/05/2014

 *Nếu sức chinh phục của hình tượng nghệ thuật là ở sự truyền cảm thì góp phần quyết định tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc ấy là nhờ chi tiết nghệ thuật.

Chi tiết nghệ thuật truớc hết là những yếu tố về ngôn ngữ, lời văn được dùng để diễn tả nội dung tư tưởng của tác phẩm.. Nếu trong thơ, chi tiết có thể là một từ như: “Vèo”  (Thu điếu – Nguyễn Khuyến), một hình ảnh tu từ như: “Hồn tôi là một vườn hoa lá”  (Từ ấy – Tố Hữu) v.v… Thì trong tác phẩm tự sự thì chi tiết có thể là lời nói của nhân vật, bộ điệu, cử chỉ, nét mặt, đồ vật, cảnh tượng, hoặc có khi là một tình tiết của cốt truyện.

Đọc“Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, chúng ta mãi không thể quên cảnh tượng hai chị em Chiến Việt khiêng bàn thơ má sang nhà chú Năm

 */ Sau khi được chú Năm ủng hộ, xin anh cán bộ tuyển quân ghi tên cho cả hai cùng đi tòng quân một đợt, chị em Chiến, Việt cắt đặt việc nhà gọn gàng chu đáo. Buổi sáng ngày lên đường, hai chị em làm cơm cúng má. Chị Chiến vào bếp nấu cơm, Việt đi câu cá. Cúng má, cơm nước xong, mấy chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. Hai chị em mỗi người một đầu khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm, băng tắt qua bãi đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác…

(  –   Tình thương mẹ sâu sắc ,tình chị em  cảm động. )

Chỉ trong gần nửa trang giấy nhưng đoạn văn trên đã gây xúc động sâu sắc cho người đọc. Xúc động bởi đoạn văn đã chạm tới một miền tâm tưởng thuộc thế giới tâm linh của người Việt. Trong đời sống tinh thần, người Việt tin rằng có một thế giới khác, thế giới mà con người sẽ trú ngụ sau khi rời khỏi chốn dương gian. Quan niệm như vậy cho nên họ luôn cho rằng người đã chết chỉ thác về thể xác còn linh hồn thì vẫn tinh anh. Linh hồn vẫn có thể đi về giữa hai thế giới ấy. Từ đó người Việt lập ra bàn thờ để cúng người đã khuất. Bàn thờ trở thành nơi gặp gỡ của vong linh người đã khuất với những người thân trong gia đình.

Trong buổi sáng trước giờ lên đường tòng quân, hai chị em Chiến, Việt đã cho mượn hoặc đem cho hết đồ đạc trong nhà riêng bàn thờ má thì đem gửi. Điều đó chứng tỏ bàn thờ má là những gì thiêng liêng nhất trong cuộc sống mà hai chị em đều trân trọng, giữ gìn, nâng niu. Má đã mất nhưng trong giờ phút khiêng bàn thờ má đem gửi, hai chị em cảm nhận được sự hiện diện gần gũi của má đâu đây. Hai chị em dường như đang nói cùng má: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, chúng con lại đưa má về”. Những cảm nhận của hai chị em Chiến, Việt cho ta hiểu đã không còn khoảng cách của hai thế giới của người còn sống và người đã khuất. Những đứa con đã thấy hình bóng mẹ trở về trong tâm tưởng, trong không gian thoảng mùi hoa cam. Và hình như còn có cả bước chân lội đồng bì bõm của má trên con đường quen thuộc xưa má đi và nay hai chị em đang bước qua. Đoạn văn xúc động bởi tác giả cho chúng ta tin rằng đã có một cuộc gặp gỡ cảm động giữa hai chị em Chiến Việt và người mẹ đã khuất. Còn cuộc gặp gỡ nào cảm động hơn cuộc gặp gỡ ấy!

  (       –  Tình yêu nước gắn liền lòng căm thù giặc cướp nước:)  Đoạn văn còn xúc động bởi vì nhắc tới và miêu tả một trạng thái của cảm xúc rất khó diễn tả thành lời đó là niềm căm thù. Chưa bao giờ Việt thấy rõ như thế mối thù thằng Mỹ. Mối thù ấy có thể rờ thấy được vì nó đang nằm trên vai, có thể cân đong được vì nó đang đè nặng trên vai. Bàn thờ má đã “vật chất hóa” cái vốn vô hình đó là mối thù đối với thằng giặc đã giết ba má Việt. Nếu không có bom thù thì giờ này Việt sẽ được má xoa đầu, lấy cơm cho ăn. Nếu không có bom thù thì giờ này đâu có bàn thờ má nặng trên vai. Cảm nhận sức nặng của bàn thờ chính là hiểu được gánh nặng của mối thù phải trả. Hai chị em Chiến, Việt đã đi qua những trận đánh khốc liệt chính là từ những cảm nhận cụ thể này về mối thù sâu nặng của gia đình đối với kẻ thù xâm lược. Đoạn văn của Nguyễn Thi đã nói lên một cách cô đọng nhất, hình ảnh nhất về cuộc chiến đấu của dân tộc: có yêu thương thì có căm thù, người đã mất nhưng mối thù ở lại đang lên tiếng đòi phải trả. Dân tộc Việt Nam bước đến ngày khải hoàn chính từ những nỗi yêu thương, những niềm căm thù cụ thể đó.

 */ Mặc dù truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” có rất nhiều đoạn, cânh xúc động nhưng khó có thể tìm được đoạn, cảnh truyện nào xúc động hơn đoạn truyện này. Sự giản dị, ngắn gọn đã đem đến cho đoạn văn những sâu lắng, chân thực và sâu sắc. Chỉ cần không nhiều những đoạn văn như thế cũng đủ để tác phẩm sống mãi!

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Câu nói của chú Năm

Posted by thaidung1611 trên 25/05/2014

Đề bài : TRONG TRUYỆN NGẮN NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH, NGUYỄN THI VIẾT :

“CHUYỆN GIA ĐÌNH TA NÓ CŨNG DÀI NHƯ SÔNG, ĐỂ RỒI CHÚ SẼ CHIA CHO MỖI NGƯỜI MỘT KHÚC MÀ GHI VÀO ĐÓ”

HÃY PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH RẰNG, TRONG TRUYỆN NGẮN NÓI TRÊN ĐÃ CÓ MỘT DÒNG SÔNG TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH LIÊN TỤC CHẢY TỪ NHỮNG THẾ HỆ CHA ANH ĐẾN ĐỜI CHỊ EM CHIẾN VIỆT.

I/ Mở bài :

_ Nguyễn Thi sinh 1928. Mất 1968, tên thật Nguyễn Hoàng Ca, bút danh Nguyễn Ngọc Tấn

_ Ông xuất thân trong một gia đình nghèo ở miền Bắc nhưng lại sống, chiến đấu, gắn bó sâu nặng với nhân dân miền Nam,

_ Với năng lực phân tích tâm lí sắc sảo, và xâm nhập vào đời sống nội tâm nhân vật, nhà văn đã xây dựng được hình tượng những người nông dân Nam bộ thời chống Mĩ

_ Và người đọc không thể quên “Những đứa con trong gia đình”. Ở đó có một dòng sông truyền thống gia đình chảy liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác “ Chuyện gia đình ta…ghi vào đó”

II/ Thân bài :

_ Những đứa con trong gia đình được viết tháng 2/ 1966, trong những ngày nhà văn đang chiến đấu ác liệt ở miền nam

Qua hồi ức của Việt về những thành viên trong gia đình, tác giả ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình, của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

1/ Giải thích câu nói của chú Năm

_ Nói chuyện gia đình ta cũng dài như dòng sông, là Nguyễn Thi muốn nhấn mạnh sự trôi chảy, sự tiếp nối của mỗi gia đình cũng như dòng sông vậy. Nếu sông có khúc trên khúc dưới, thì gia đình có thế hệ già, thế hệ trẻ. Sự kế tục và tiếp nối ấy chúng ta gọi là truyền thống . Mỗi con người, mỗi đời người trong một gia đình phải là một khúc sông trong một dòng sông truyền thống

_ Và họ chỉ được gọi là thành viên trong gia đình với những ai đã ghi được, đã làm nên được khúc sông của mình trong cái dòng sông truyền thống gia đình ấy, Có nghĩa là, con không chỉ là sự tiếp nối huyết thống mà quan trọng hơn còn là sự tiếp nối một truyền thống.

_ Hơn nữa ta không thể hiểu khúc sông sau của một dòng sông nếu không hiểu ngọn nguồn đã sinh ra nó. Cũng như vậy, ta chỉ có thể hiểu về những đứa con của một gia đình khi và chỉ khi đã hiểu ít nhiều về chính cái truyền thống gia đình đã sinh ra những đứa con ấy

2/ Phân tích và chứng minh

Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình thực sự đã có một dòng sông của truyền thống gia đình. Dòng sông ấy liên tục chảy từ thế hệ cha anh đến thế hệ những chiến sĩ trẻ anh hùng thời chống Mĩ. Ở họ đều có

@/ những phẩm chất chung

đó là yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, thủy chung son sắt với quê hương, cách mạng .Ở họ luôn có sự hòa quện giữa  giữa tình cảm gia đình với tình yêu đất nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc . Và chính  sự hòa quyện ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam thời đánh Mĩ.

Nhưng mỗi thanh viên trong gia đình lại là một khúc sông riêng,

@/ Có những nét riêng

đem đến vẻ đẹp phong phú đa dạng của con người miền Nam thời đánh Mĩ

Đối với chị em Chiến và Việt

a/ Chú Năm

chính là khúc thượng nguồn, là nơi kết tinh đầy đủ nhất truyền thống gia đình.

_ Chú là một người nông dân Nam bộ, thật thà bộc trực vui tính và giàu tình cảm.

Người đọc ấn tượng sau đậm về chú Năm vì

+ Chú là người lao động chất phác “chú vốn đi bè cũng ham sông ham bến”

Nhưng không chỉ có vậy mà ở

+ Chú Năm đậm chất Nam bộ.

Cái chất Nam bộ ấy được thể hiện ngay trong ngôn ngữ đầy cá tính không thể trộn của chú. Và dường như qua chú, ta thấy phảng phất cái tinh thần ham đạo nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu thuở xa xưa. Việc chi em Việt “ra đi kì này là ra chân trời mặt biển”. và với chú “việc nhà nó thu gọn được thì việc nước nó được mở rộng, gọn bề gia thất đặng bề nước non”.

+ Chú là người giàu tình cảm

Trong truyện chú Năm là người hay hò, “chú hay kể về sự tích của gia đình và cuối câu chuyện thế nào chú cũng hò lên mấy câu… những câu nói về cuộc đời cơ cực của chú và những chiến công của đất này”.

Nhưng người đọc sẽ nhớ mãi một

_ Chú Năm đại diện cho truyền thống và luôn có ý thức tự hào và lưu giữ truyền thống

+ Những lúc chú hò không đơn thuần chỉ là giải khuây, mà qua “giọng hò đã đục và tức như tiếng gà gáy” ấy, ta thấy có cái gì đó thật trang nghiêm, thật tha thiết, “gân cổ chú nổi đỏ lên, tay chú đặt lên vai Việt, đôi mắt chú mở to, đọng nước, nhìn thẳng vào đôi mắt Việt, đầu lắc lư, nhắn nhủ, làm như Việt chính là nơi cụ thể để chú gửi gắm những câu hò…”Thì ra, những tấm áo vá quàng, con sông dài cá lội, người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công…không đơn thuần là những câu ca réo rắt mà là ngọn nguồn, là hồn thiêng của cha ông đang nhập vào chú Năm để truyền đến đời con cháu

Không chỉ truyền lại truyền thống cho con cháu qua những câu hò mà

+ Chú còn có cả một cuốn sổ gia đình

Gọi là cuốn sổ nhưng nó thực sự là một thứ biên niên sử của gia đình. Mà điều thú vị là ở chỗ ,nó được viết ra từ một ngòi bút thực sự bình dân, “chữ viết lòng còng”, lời văn mộc mạc. Nhưng chính cái thô mộc vụng về lại là những bằng chứng nóng hổi về nợ máu của kẻ thù và sự dũng cảm kiên cường của dòng họ trong chiến đấu

Cùng với chú Năm

b/ Má Việt

Má cũng là một hiện thân của truyền thống và là một hình tượng mạng đậm dấu ấn riêng của phong cách Nguyễn Thi

_ Là một người mẹ chắc khỏe về thể chất và mạnh mẽ về tinh thần

Điều đó được thể hiện ngay trong

+ Ngoại hình của má : Cái gáy đo đỏ, đôi vai lực lưỡng, chiếc nón rách, tấm áo bà ba đẫm mồ hôi đã đen lại không con thấy bạc; dư sức một mình rinh thúng lúa từ dưới thuyền đặt lên giường ngủ. Đó là chân dung của mẹ.

Mẹ còn là người phụ nữ

+ Tần tảo xốc vác thương chồng thương con

Sáng sáng câu dặn con vừa hối hả buông khỏi miệng thì chân đã vội đẩy xuồng ra tít giữa sông. Chiều về , cái nón rách có dễ chưa kịp quạt cho khuôn mặt bớt đi một hai phần đỏ rực lại đã bơi đi, canh hai mới trở lại nhà, người sự mùi lúa gạo và mồ hôi, thứ mùi của đồng áng của cần cù sương nắng.

Nhưng mẹ là người mẹ trong chiến tranh, chỉ tần tảo xốc vác thôi chưa đủ. Mà mẹ còn phải trở thành một sức mạnh không thế lực tàn bạo nào có thể khuất phục. Má của Việt là như vậy

_ Gan góc, căm thù giặc sâu sắc, biết ghìm nén, biết vượt lên đau thương để sống, chiến đấu và che chở cho đàn con.

Ngay từ thời con gái, má Việt đã thể hiện tính cách

+ Gan góc

Chiều chiều đi làm mướn về vì không có tiền đi đò nên mẹ lấy nón làm phao mà lội qua sông

Lấy chồng rôi má lại lặn lội thăm chồng, lên rừng xuống biển má cũng đi. Rồi ba Việt bị chặt đầu, má « cư theo cái thằng xách đầu mà đòi ». « Đi từ ấp trong ra ấp ngoài, nó qua sông tao cũng qua, nó về quận tao cũng tới. Một tay tao bồng em mày, một tay tao cắp rổ », mặc cho nó bắn đùng đùng trên đầu. Và khi quân bất nhân đi rao khắp chợ rồi liệng cái đầu ba vào ngực má, đầu ba rơi ở dưới đất không lượm mà má cứ nhè cái thằng vừa liệng đầu mà đá. Có ai ngơ cái truyền thống yêu nhau tam tứ núi cũng trèo xưa, lại được má thể hiện sinh động nhưng đau đớn dữ dội đến thế

+ Căm thù giặc sâu sắc, biết ghìm nén, biết vượt lên đau thương để sống và chiến đấu

Chồng bị chặt đầu, nỗi đau ấy khác gì dao cứa ngang tim, nhưng mẹ cố không để rơi nước mắt « chiều hôm đó về tới nhà má mới khóc…Bao nhiêu năm sau đó cũng vậy, lúc nào nói đến chuyện trên má cũng không khóc ». Và nếu lệ cứ ứa ra, thì má chỉ nằm chứ không kể chi hết. Đau thương ấy, người mẹ một mình nuốt sâu vào đáy lòng, để lặng lẽ một mình chịu đựng sức thiêu đốt của nỗi đau âm ỉ cháy.

Dưới một núi đau thương, người mẹ ấy vẫn hiên ngang đối mặt với kẻ thù mà « hai bàn tay to bản » vẫn phủ lên đâu đàn con đứng nép dưới chân, vẫn kiên cường sống và chiến đấu lội hết đồng này sang bưng khác « đôi mắt tìm việ, bàn chân đo đường », vừa làm công cấy gặt vừa do tình thế địch.

Một hình ảnh, một truyền thống như thế, tác giả muốn phải là bất tử, cho dù con người cụ thể có phải hi sinh. Người mẹ ngã xuống, nhưng dòng sông truyền thống kia vẫn chảy. Và hình ảnh của mẹ lại hiện về qua những đứa con của mẹ

c/ Chị em Chiến và Việt

Vì là hai chị em ruột, lại cùng là chiến sĩ giải phóng, Chiến và Việt có nhiều

*/ Điểm giống nhau

Là con em của một gia đình cách mạng giàu truyền thống anh hùng, ông bà ba má đều bị sát hại nên

_ Cả hai em đều có một mối thù chất chứa trong lòng, đều nung nấu ước nguyện lên đường đánh giặc trả thù cho gia đình và quê hương.

Người đọc thực sự xúc động trước cảnh hai chi em Chiến, Việt tranh nhau ghi tên tòng quân, và sáng hôm sau, trước lúc lên đường cùng ghé vai khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm « nào, đưa má sáng ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc tra thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng lịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai ».

Gia đình Tư Năng là một gia đình có truyền thống bất khuất. Ba má gan góc nên

_ Cả hai chị em cũng gan góc

Ngày ba bị sát hại, má đi trước, bầy con đi sau bám sát lũ giặc mà la « trả đàu ba ! Trả đầu ba ». Giặc bắn cũng không sợ. Cho đến khi lấy lại được đầu ba rồi, Việt cứ nhè cái thằng liệng đầu mà đá.

Lớn lên hai chị em đều chiến đấu rất dũng cảm và lập được nhiều chiến công. Chị Chiến đánh tầu giặc trên sông Định Thủy bắn chết một thằng Mĩ, còn Việt thì phá được một xe tăng Mĩ trong một trận đánh ác liệt giữa rừng cao su

_ Cả hai chị em đều say mê đánh giặc trả thù cho ba mà và quê hương

Chiến đã nói với em trong đêm thu xếp việc nhà trước lúc ra trận « Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi tao chỉ có một câu : nếu giặc còn thì tao mất, vậy à ». Câu nói của Chiến mộc mạc giản dị nhưng lại thiêng liêng như một lời thề. Nó giống như quyết tâm đánh giặc của hàng triệu thanh niên thời bấy giờ : Ra đi chỉ một lời thề, chưa giết hết giặc chưa về quê hương.

Căm thù giặc, say mê đánh giặc, vô cùng gan góc dũng cảm nhưng Chiến, Việt đều ở độ tuổi mới lớn, nên

_ Cả hai chị em vẫn còn nét hồn nhiên ngây thơ

Hai chị em vẫn còn giành nhau ai bắt ếch nhiều hay ít, giành nhau thành tích bắn tầu chiến giặc, giành nhau ghi tên tòng quân.

Việt, Chiến có những nét chung về tính cách nhưng cũng có những

*/ Điểm riêng về cá tính :

_ Chiến :

Là chị lớn, sau khi má mất, Chiến sớm phải làm chủ gia đình, nên

#/  Chiến có nhiều nét giống má

( giống vóc dáng, ở đức tính gan góc, ở tính đảm đang tháo vát …)

+ Chiến tần tảo tháo vát khôn ngoan già dăn trước tuổi.

Chiến biết lo toan thu xếp mọi việc đâu vào đấy. Nấu cơm cúng má, gửi đồ đạc nhà cửa, trao lại chi bộ năm công ruộng, gửi bàn thờ má, thu xếp cho đứa em út ăn ở và học hành. Từ việc nhỏ đến việc lớn, Chiến đều bàn với em và thu xếp chu đáo. Khi nghe Chiến trình bày việc nhà, chú Năm phải buột mồm khen « Khôn ! Việc nhà nó thu gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thất, đặng bề nước non. Con nít chúng bay đánh giặc kì này khôn hơn chú hồi trước ».

Là chị

+ Chiến rất thương em và nhường nhịn em

Mọi chuyện tranh giành của hai chị em từ việc bắt ếch đến chuyện đánh tàu chiến Mĩ trên sông Định Thủy cuối cùng Chiến cũng đều nhường em. Riêng có chuyện ghi tên tòng quân thì Chiến nhất định không nhường vì ngoài niềm khát khao đánh giặc, còn là lòng thương em, chưa muốn em sớm phải xông pha bom đạn hiểm nguy

Trong việc học hành

+ Chiến tỏ ra kiên nhẫn hơn Việt.

Chị có thể ngôi ở góc ván tập đánh vần hoài từ trưa tới xế, rồi từ xế tới chiều, bỏ ăn quên cả trời chạng vạng.

Nhưng so với mẹ,

#/ Chiến có nét mới của thế hệ sau

 (khúc sông sau chảy xa hơn )

+ Hồn nhiên vui tươi, hay cười, thích làm dáng

+ Chiến bắn tầu giặc từ khi con nhỏ, đi đánh giặc với lời thề « nếu giặc còn thì tao mất »

Qua ngòi bút của Nguyễn Thi Chiến hiện lên là một tính cách khá đa dạng : Vừa là một cô gái mới lớn tính khí còn rất trẻ con, vừa là một người chi biết nhường nhịn, biết lo toan, đảm đang tháo vát.

_ Còn Việt

có nét riêng dễ mến của cậu con trai mới lớn

Là em lại là con trai, nên

+ Việt còn ngây thơ trẻ con

Nếu Chiến luôn biết nhường nhịn em thì

# Việt lại hiếu thắng hay tranh giành với chị,

# Việt thích đi câu cá, bắn chim. Sau này đã trở thành giải phóng quân, hành trang của Việt vẫn có một chiếc ná thun nằm gọn trong túi áo như hồi còn ở nhà.

# Việt yêu chị, thương chị theo cách rất trẻ con (giấu chị, sợ mất chị )

# Say mê đánh giặc dũng cảm chiến đấu nhưng lại sợ ma. Lạc đơn vị ba ngày đêm, mình đầy thương tích, lúc nào nòng súng lên đạn vẫn hướng về phía giặc. Thế nhưng khi bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao phủ khắp chiến trường thì Việt lại sợ ma « con ma cụt đầu »…

+ Việt rất vô tư

# Phó mặc cả việc nhà cho chị.

Nghe chị bàn việc nhà, em chỉ ừ ào cho qua, vừa nghe vừa đưa tay chụp con đom đóm rồi ngủ gục lúc nào không biết

Tuy còn vẻ hồn nhiên vô tư nhưng

+ Việt cũng thật đường hoàng chững chạc trong tư thế của người chiến sĩ dũng cảm, kiên cường.

Trong dòng sông truyền thống, Việt là con sóng vươn xa nhất, là người tiêu biểu nhất cho tinh thần tiến công cách mạng

Tóm lại hai chị em chiến ,Việt, má Việt, chú Năm là con nòi gốc gác nông dân. Họ đều là những con người tiêu biểu cho khí phách anh hùng của nhân dân miền Nam thời đánh Mĩ

Ở họ tuy có nhiều điểm giống nhau trong dòng sông truyền thống nhưng mỗi người một bản sắc, một tính cách điển hình sinh động, làm rạng rỡ khúc sông của riêng mình. Nguyễn Thi, qua thiên truyên ngắn này đã khám phá, phân tích và lí giải sức mạnh, chiến công của thế hệ trẻ miền Nam thời chống Mĩ không chỉ ở tinh thần của thời đại mà còn có nguồn gốc sâu xa trong truyền thống gia đình. Chính dự hòa quyện giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

Và thực sự trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình  đã có một dòng sông của truyền thống gia đình. Dòng sông ấy liên tục chảy từ thế hệ cha anh đến thế hệ những chiến sĩ trẻ anh hùng

III/ Kết luận

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »

Cảm nhận về thiên nhiên và con người Việt Bắc

Posted by thaidung1611 trên 12/05/2014

ĐỀ 3: CẢM NHẬN CỦA EM VỀ ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU

     “ Mình về mình có nhớ ta                     Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.          Ve kêu rừng phách đổ vàng

      Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi          Nhớ cô em gái hái măng một mình

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.           Rừng thu trăng rọi hòa bình

      Ngày xuân mơ nở trắng rừng          Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

                                  (Trích Việt Bắc – Tố Hữu )

Đoạn thơ trên lời của người đi đối với kẻ ở ; của cán bộ miền xuôi với người Việt Bắc. Và cũng qua đoạn thơ trên, tỏc giả dó làm nổi bật vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc qua nỗi nhớ tha thiết sâu nặng(bức tranh tứ bình).

I/ MỞ BÀI

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, là cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. _ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp núi chung. Trong đó đoạn thơ:      “ Mình về mình có nhớ ta 

                     …….   

                      Nhớ ai tiếng hỏt ân tình thủy chung”

đã phản ánh sinh động vẻ đẹp của thiên nhien và con người Việt Bắc qua nỗi nhớ da diết cồn cào của tác giả

II/ THÂN BÀI            

1/ (Xuất xứ chủ đềBài thơ được làm vào thỏng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cỏn bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đó xúc động viết nên bài thơ này.

 2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước)

Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng, nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa, nỗi lòng kẻ đi người ở sao khỏi xuyến xao bồi hồi. Và vì thế cả bài thơ tràn ngập nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong kẻ ở và người đi trong câu hỏi và trong cả lời đáp. Nỗi nhớ cứ trở đi trở lại cồn cào da diết

3/ ( Phân tích chi tiết)

 a/ Dường như thấu hiểu nỗi lòng người ở lại, người ra đi không chỉ khẳng định lòng chung thủy mà cũng thể hiện nỗi nhớ da diết

                             “Ta về mình có nhớ ta

                     Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

Chế Lan Viên từng viết ” Khi ta ở đất chỉ là nơi ở

 Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”.

 Việt Bắc đã hóa tâm hồn người cán bộ kháng chiến khi chia xa. Câu thơ như là lời ướm hỏi đầy lưu luyến của người ra đi đối với người ở lại. “Ta về mình có nhớ ta”. Người ra đi hỏi mà không cần câu trả lời. Mà đó chỉ là cái cớ để người ra đi  giãi bày tâm tình. Hai tiếng “Ta – mình” xoắn xuýt thân thiết như đôi lứa yêu nhau. Điệp từ “ta” lặp lại bốn lần cùng với âm “a” là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa, tha thiết nồng nàn

Với Tố Hữu, người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”, mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của “hoa cùng người”. Ở đây, hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc. Còn người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa cùng Người” quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này.Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc  cho đoạn thơ : Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành  cho nhớ hoa, nhớ cảnh, câu tám dành cho nhớ người.

b/ Cảnh và người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng,  hấp dẫn đến lạ lùng :

 

*/ Mùa Đông: rừng xanh biếc – bông chuối đỏ tươi – ánh nắng vàng rực rỡ.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương , cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng mùa đông ở Việt Bắc trong  thơ Tố Hữu thì ấm áp lạ thường. Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát của rừng già, là màu đỏ tươi của hoa chuối đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Từ xa trông tới, bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa,vừa cổ điển vừa hiện đại.Cái màu “đỏ tươi” nóng ấm của bông chuối  kia không chỉ làm cho làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp , xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Mà nó còn làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tịn mùi hương

Trên cái nền lung linh của “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, con người của vùng chiến khu hiện ra trong tư thế thật đẹp ” Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.Tố Hữu không miêu tả một gương mặt mà nhà thơ khắc họa một tư thế đẹp : Con người đang đứng đỉnh cao và ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng gài thắt lưng của họ. Và như thế, giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang, con người là tụ điểm của ánh sáng, là linh hồn của bức tranh Việt Bắc. Ho xuất hiện với tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi. Câu thơ vừa mang tính hình tượng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh

*/  Đông qua, xuân lại tới, : khu rừng bừng lên một sức sống mới

                Ngày xuân mơ nở trắng rừng

           Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

 Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ. Bằng các động từ “nở”, “trắng rừng” kết hợp với phép đảo ngữ,  Tố Hữu muốn nhấn mạnh sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống ;Và trong khung cảnh màu trắng mơ màng, bâng khuâng ấy. con người xuất hiện với hoạt động ” chuốt từng sợi giang”. Con người đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày. Từ “chuốt” và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần mẫn, tỉ mẩn, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút đó cũng chính là  phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc.

*/ Hè về, cảnh vật và con người nơi đây sống động hơn bao giờ hết

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Khi tiếng ve cất lên cũng là thời điểm cánh rừng phách đang là màu xanh bạt ngàn bỗng nhất loạt chuyển sang màu vàng. “Đổ” là động từ mạnh, không chỉ diễn tả sinh động sự chuyển màu nhanh chóng, đồng loạt của hoa phách đầu hè. Mà nó còn làm cho người đọc liên tưởng màu vàng của hoa phách đang đổ tràn lênh láng. Cả khu rừng và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng ánh, lóng lánh dưới ánh nắng  hè.

Hiện lên trong cái thiên nhiên lộng lẫy ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái măng rừng nuôi bộ đội kháng chiến: “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Hái là hoạt động bẻ nhưng hết sức nhẹ nhàng uyển chuyển, phù hợp với bức tranh lãng mạn.Cô em gái hái măng “một mình”, nhưng sao ta không có ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.

 */ Giữa bao nhiêu nỗi nhớ, nhà thơ vẫn thể không quên  mùa thu Việt Bắc :

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Những ánh trăng rọi qua kẽ lá, vòm lá tạo nên khung cảnh huyền ảo. Hình ảnh thơ gợi cho ta cảm nhận về một cuộc sống bình yên hạnh phúc, một ước mơ, một niềm tin chiến thắng.Đó là nét quen thuộc trong cái nhìn của Tố Hữu đối với hiện thực cách mạng

Khung cảnh của câu thơ cũng là khung cảnh trữ tình dành cho những cuộc hát giao duyên

 Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung  

Chữ ai là cách nói bóng gió, ám chỉ người đang hát cùng với mình. Chữ ai còn là đại từ phiếm chỉ gợi lên bao hoài niệm, bâng khuâng nghĩa tình thuỷ chung. Tiếng hát ân tình thuỷ chung giữa ta với mình, giữa ta với ai được thử thách trong cay đắng ngọt bùi                                                                                                                                            

III/ Kết luận

Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, bằng các hình ảnh, chi tiết chắt lọc, những hình ảnh thơ tràn ngập những màu sắc chói lọi rực rỡ, kết hợp với lối đồng hiện tương sinh tương hỗ mỗi câu thơ tả cảnh đi kèm với một câu thơ tả người, tác giả đã tái hiện sinh động thiên nhiên con người Việt Bắc. Thiên nhiên ấy như một sinh thể đang biến đổi trong từng khoảnh khắc ( Đông xuân hạ thu, sáng, hoa mơ nở trắng rừng, trưa ánh nắng vàng rực rỡ và khi đêm về, trăng rọi bàng bạc khắp nơi ). Thiên nhiên ấy càngtuyệt vời, đáng yêu, càng trở nên hài hoà sinh động hơn khi xuất hiện con người.  Họ là những con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. Họ chính là nét đẹp chủ đạo của bức tranh Việt Bắc, chính họ đã thắp sáng thiên nhiên làm thiên nhiên thêm rực rỡ. Chính họ đã gợi lên được nỗi nhớ da diết cho người ra đi

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   

 

Posted in Không phân loại | Leave a Comment »