Phía trước là chân trời

Cảm nhận của em về đoạn thơ “Những người vợ…núi sông ta”

Posted by thaidung1611 trên 04/05/2014

I/ MỞ BÀI

_ Đất Nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận và cách thể hiện riêng

_ Nếu như các nhà thơ cùng thời thường cảm nhận về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay qua các triều đại phong kiến thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi,  bình dị : Đất nước của nhân dân, của ca dao thần thoại.

Với tư tưởng ấy nhà thơ  đã đi lý giải ai đã làm nên đất nước :

Những người vợ….giỗ tổ

                 (Đất Nước trích Mặt đường khát vọng)

II. THÂN BÀI 

1/ (Xuất xứ chủ đề

_ Mặt đường khát vọng được Nguyễn khoa Điềm hình thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974.

_ Thời điểm này miền Nam bị tạm chiến, đế quốc Mĩ và bọn tay sai ra sức chống phá cách mạng, lôi kéo mua chuộc thanh niên vào chốn ăn chơi mà quên đi trách n hiệm với đất nước.

_ Đoạn trích Đất Nước (trích chương V của trường ca Mặt đường khát vọng) ra đời đã đánh thức tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

2/ (khái quát ý đoạn thơ trước)

 Nếu ở đoạn thơ trên, Nguyễn Khoa Điềm nêu cảm nhận chung về đất nước, thì ở đoạn thơ này, nhà thơ đi lý giải ai đã làm lên đất nước.

a/Và theo bước chân của nhà thơ, một diện mạo non sông gấm vóc hiện ra kì vĩ tráng lệ nhưng cũng gần gũi thân thiết biết bao :

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau còn góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người  dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

  Đất nước ta vô cùng tráng lệ với núi cao, biển rộng, sông dài, cánh đồng bát ngát thẳng cánh cò bay. Những tên núi tên sông đã soi bóng vào thơ ca dân tộc như Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Dục Thuý sơn, Côn sơn ca của Nguyễn Trãi, Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan… Nguyễn Khoa Điềm cũng nói về núi sông của đất nước, nhưng ông không nói đến địa linh nhân kiệt, quan hà hiểm trở, mà theo ông :

_/ Đất nước là những địa danh, những danh lam thắng cảnh kỳ thú.

 Núi Bút non Nghiên, hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, vịnh Hạ Long, sông Cửu Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…Đó là những danh lam thắng cảnh tươi đẹp. Nhưng mỗi địa danh không phải là một dòng tên vô nghĩa.

_/ Đằng sau tên đất, tên rừng, tên núi tên sông là cuộc đời, gắn với những kỳ tích , huyền thoại, là tâm hồn nhân dân hoá thân mà thành

+  Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn là do “những người vợ nhớ chồng” hoặc những “cặp vợ chồng yêu nhau”“góp cho”, “góp thêm”, làm đẹp thêm, tô điểm cho Đất Nước.                                   

→vượt lên lối liệt kê tầm thường Nguyễn Khoa Điềm đã có một cách nhìn, một cách diễn đạt mới mẻ, nhân văn. Ông không chỉ chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của thiên nhiên mà còn nhìn ra trong đó tình yêu thuỷ chung của biết bao người vợ chờ chồng trong chiến tranh liên miên, bất chấp mọi bão tố của thời gian để có sự gắn kết muôn đời,

Không hoá thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờ

Đợi một dáng hình trở lại giữa đơn côi

+ Ngắm núi Bút non Nghiên, Nguyễn Khoa Điềm không chỉ thấy vẻ đẹp mỹ lệ của nó phô bày giữa đất trời nước Việt, và nhà thơ không nghĩ địa linh nhân kiệt,” mà ông nghĩ về người học trò nghèo

Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên

“Nghèo” nhưng “người học trò” ấyvẫn góp cho đất nước ta “núi Bút non Nghiên”, làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt, văn hiến Việt Nam. Núi Bút, non Nghiên  trở thành biểu tượng của truyền thống hiếu học, vượt khó vươn lên của nhân dân ta

+ Theo mạch cảm xúc,  nhà thơ đã  về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc hình sông thế núi :

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

“Gót ngựa của Thánh Gióng” đã “để lại” cho đất nước bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay. “Chín mươi chín” núi con Voi  ở Phong Châu đã quần tụ, chung sức chung lòng “góp mình dựng đất tổ Hùng Vương”.Những hình ảnh thân quen của non sống đất nước gợi lên  truyền thống đánh giặc hào hùng của cha ông ta qua truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, cùng với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của các vua Hùng.Các từ ngữ: “đi qua còn… để lại”, “góp mình dựng” đã thể hiện một cách bình dị mà tự hào về sự thiêng liêng của Tổ quốc, về khí phách anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Đất Nước

+  Đất Nước ta có núi cao, biển rộng, sông dài. Có sông Hồng Hà “đỏ nặng phù sa”.Có sông Mã “bờm ngựa phi thác trắng”. Và còn có Cửu Long Giang – dòng sông Chín Rồng với dáng hình thơ mộng, ôm ấp huyền thoại kiêu sa:

“Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm”.

  Sự hiền hòa và trù phú của Cửu Long giang được nhà thơ đã ví nó như một sinh thể“Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm”, góp”cho quê hương nhiều nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, bốn mùa lúa và hoa trái tốt tươi.

+ Trong cảm nhận của nhà thơ,“Đất Nước của nhân dân” không chỉ được thể hiện qua các kì quan nổi tiếng, và tên tuổi những người có công với dân với nước như Hạ Long, những ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm”. Mà theo ông

   “Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Hạ Long trở thành kì quan, thắng cảnh là nhờ có “con cóc, con gà quê hương cùng góp cho”. Và những tên làng, tên núi, tên sông như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… ở vùng cực Nam Đất nước xa xôi, đó là do “những người dân nào đã góp tên”, đã đem mồ hôi, xương máu bạt rừng, lấn biển, đào kênh, bắt sấu, bộ hổ… làm nên ? Nhà thơ đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào  “những người dân nào” không ai biết mặt biết tên,  nhưng bằng đức tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo, họ đã  “góp cho”, “góp nên”, “để lại”, “góp mình”, “cùng góp cho”, “đã góp tên  làm cho Đất Nước ngày thêm giàu đẹp. Nhà thơ đã đem đến cho những động từ – vị ngữ ấy (góp cho, góp nên…)nhiều ý nghĩa mới mẻ, nhiều sắc thái biểu cảm với bao liên tưởng đầy tính nhân văn.. Để từ đó khẳng định chính họ – những con người không tên  không tuổi – những anh hùng vô danh, đãhoá thân thành “dáng hình xứ sở, “làm nên Đất Nước muôn đời”

          Tám câu thơ với bao địa danh và cổ tích huyền thoại được nhà thơ nói đến thể hiện niềm tự hào và biết ơn Đất Nước cùng Nhân dân. Các thi liệu – hình ảnh: người vợ, cặp vợ chồng, gót ngựa, chín mươi chín con voi, con rồng, người học trò nghèo, con cóc con gà, những người dân nào…  dưới ngòi bút của Nguyễn Khoa Điềm mang ý nghĩa tượng trưng cho tâm hồn trung hậu, cho trí tuệ và tài năng, đức tính cần cù và tinh thần dũng cảm,… của nhân dân ta qua trường kì lịch sử

Thủ pháp liệt kê với hàng loạt các địa danh, những thắng cảnh kết hợp phép điệp được sử dụng thành công với nhiều cấp độ: như điệp từ: những (chỉ số nhiều, đông đảo), góp (chỉ sự tự nguyện, chung tay vun đắp mỗi cái riêng để thành cái chung lớn). Hay điệp cấu trúc: (A góp cho Đất Nước B”) được lặp lại trong suốt phần đầu đoạn thơ góp phần thể hiện sự nối tiếp, liền mạch của quá trình nhân dân dựng xây, giữ gìn đất nước.

(b/ Bốn câu còn lại)

Nếu phần đầu đoạn thơ là giọng điệu say sưa kể mãi về những đóng góp của nhân dân cho Đất Nước thì bốn câu cuối đoạn, giọng thơ vang lên say đắm, ngọt ngào :

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta..”

Hình tượng thơ từ cụ thể nâng lên tầm khái quát, tính chính luận kết hợp một cách hài hòa với chất trữ tình đằm thắm

Ruộng đồng gò bãi… là hình ảnh thân quen của quê hương đất nước. Và nhà thơ cho rằng bất cứ ở đâu trên đất nước Việt Nam  đều mang theo “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”. Chữ “một”được điệp lại 3 lần như nhấn mạnh : Bao trùm lên xứ sở thân yêu là điệu tâm hồn, phong cách, ước mơ hoài bão của ông cha ta là phong tục tập quán, là văn hóa Đại Việt

Đoạn thơ được kết lại trong cảm xúc ngây ngất tự hào :

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta..”

Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử, Đất Nước có biết bao“cuộc đời đã hóa núi sông ta” mà thành.  Từ cảm thán “ôi”  kết hợp chữ “ta” được láy lại 2 lần, đã tạo nên những vần thơ du dương về nhạc điệu, nồng nàn, say đắm tự hào về cảm xúc. Giọng điệu thơ vừa đĩnh đạc hào hùng, vừa thiết tha lắng đọng. Vẻ đẹp nhân văn chan hòa trên những dòng thơ tráng lệ. Tầm vóc của Đất Nước và dân tộc được hiện diện một cách sâu sắc rộng lớn không chỉ trên bình diện địa lí “mênh mông” mà còn ở dòng chảy của thời gian và lịch sử bốn nghìn năm “đằng đẵnglà một câu thơ rất hay, rất đẹp ca ngợi tâm hồn Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam.,. .

Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho cái hay, cái đẹp của hồn thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài “Đất Nước”. Câu thơ mở rộng đậm đặc chất văn xuôi. Yếu tố chính luận và chất trữ tình, chất cảm xúc hoà quyện, làm cho chất thơ dào dạt , ý tưởng sâu sắc, mới mẻ. Đất nước hùng vĩ, nhân dân anh hùng, cần cù, hiếu học, ân nghĩa thủy chung… được nhà thơ cảm nhận với tất cả lòng yêu mến tự hào.

Chất liệu văn hóa dân gian được tác giả vận dụng sáng tạo. Qua hình tượng đất nước mà nhà thơ ca ngợi tâm hồn nhân dân, khẳng định bản lĩnh nòi giống và dáng đứng Việt Nam. 

 

 

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: