Phía trước là chân trời

Ôn Chí Phèo của Nam Cao

Posted by thaidung1611 on 11/06/2014

                                                                                           

A/ Tác giả

I/ Tiểu sử và con người

1/ Tiểu sử10355886_776397009071372_1577632493968298139_n

– Nam Cao (1915-1951) tên thật là Trần Hữu Tri, trong một gia đình trung nông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, Nam Sang Lý Nhân, Hà Nam

Làng đại Hoàng thường xuất hiện trong nhiều sáng tác của Nam cao với cái tên làng Vũ Đại. Dân ở đây thường trồng chuối ( giống chuối ngự thơm ngon nổi tiếng ), trồng mía và trồng trầu. Khi đến mùa thu hoạch, họ thường bán cho người buôn chở xuống chợ ở Nam Định, cách làng khoảng 15 km. Một số người làm thêm nghề dệt, làm những mặt hàng đơn giản. Tuy vây, dân đông, ruộng ít, đây lại thuộc vùng trũng, thời trước mỗi năm chỉ trồng được một vụ lúa; hơn nữa, lại bị bọn cường hào bóc lột trắng trợn, nặng nề nên tuy có nghề phụ, nhưng quanh năm người dân ở đây vẫn nghèo khổ

_ Bút danh Nam Cao là ghép từ hai chữ đầu tên huyện Nam Sang và tên tổng Cao Đà mà thành

_ Học hết bậc thành trung, năm 1935 ông theo cậu vào Sài Gòn và có ý định ra nước ngoài học tập nhưng không thành

_ Khoảng 3 năm sau do ốm đau ông phải trở về quê, từ đó sống vất vưởng khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư, lúc thì phải sống nhờ vợ

– 1943 ông tham gia nhóm văn hoá cứu quốc ở Hà nội

_ 1945 ông tham gia tổng khởi nghĩa ở Lí Nhân

– Từ 1946 ông tham gia đoàn quan Nam tiến vào đến NảmTung Bộ

_ 1947 Ông lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ và được kết nạp Đảng tại Bắc Cạn

_ 1950 tham gia chiến dịch biên giới

_ 11/1951 trên đường công tác ở liên khu 3 ông bị giặc phục kích bắt và sát hại (Ninh Bình)

_  Đầu năm 1998 hai cốt của ông được chuyển về quê

Những yếu tố tạo lên một nhà văn nhân đạo Nam Cao ?

_ Thời đại

_ Gia đình

_ Bản thân

2/ Con người Nam Cao

_ Khiêm nhường có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng có đời sống nội tâm phong phú

_Thường nghiêm khắc đấu tranh với bản thân để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ hẹp để vươn tới cuộc sống cao đẹp

_ Có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình yêu thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nghèo khổ bị áp bức bị khinh miệt

_ Ông hay suy nghĩ về nhiều vấn đề trong cuộc sống để rút ra những nhận xét có tầm triết lí sâu sắc và mới mẻ

_ Có quan điểm nghệ thuật tiến bộ…

II/ Sự nghiệp

1/ Quan điểm nghệ thuật

*/ Ông tự giác về quan điểm nghệ thuật và có quan điểm nghệ thuật tiến bộ

Mặc dù không có những tác phẩm chính luận chuyên bàn về quan điểm nghệ thuật, nhưng rải rác trong các sáng tác của Nam Cao, ta thấy quan điểm nghệ thuật của ông được thể hiện khá hệ thống, nhất quán và có nhiều điểm tiến bộ so với phần đông nhà văn cùng thời. Không ít khía cạnh trong quan điểm đó chứng tỏ sự phát triển ở trình độ cao của tư duy nghệ thuật hiện thực. Ví dụ

_ Ông phê phán tính chất thoát li tiêu cực của văn học lãng mạn đương thời một cách toàn diện và sâu sắc

Theo ông đó là thứ nghệ thuật “lừa dối”, âm hưởng chính của nó toàn là “cái giọng sướt mướt của kẻ thất tùnh”. Ông phê phán bệnh chạy theo thời thượng của các cây bút lãng mạn thoát li lúc bấy giờ “đua nhau tả những cuộc tình duyên của trai thành thị gái đồng quê. Vai chủ động trong các truyện ấy đều là những thôn nữ rất đẹp, rất hiền, rất ngây thơ” (Một truyện Xú vơ nia ).

_Lên án văn học thoát li cũng c ó nghĩa là  Nam cao lên án quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, khẳng định văn học hiện thực, khẳng định nghệ thuật vị nhân sinh

Ông yêu cầu :

+ Nghệ thuật phải gắn bó với đời sống của nhân dân lao động“Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ  kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” Nhà văn cần phải “đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” ( Giăng sáng )

Bên cạnh việc phê phân không khoan nhượng văn học lãng mạn thoát li,

+ Ông chỉ rõ hạn chế của những tác phẩm phản ánh hiện thực mờ nhạt, ý nghĩa xã hội non kém.

Trong truyện Đời thừa, nhà văn Hộ nhận xét : “Cuốn Đường về chỉ có giá trị địa phương…Nó chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội. Tôi cho là xoàng lắm

_ Ông quan niệm một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa chân chính phải có giá trị phổ quát và đặc biệt phải thấm nhuần nội dung nhân đạo cao cả :“Vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn”; “chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”.

Trong số những nhà văn hiện thực trước cách mạng,

*/ Ông là người có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình.

Theo ông

_ Nghề viết văn trước hết phải là một nghề sáng tạo.Nhà văn phải biết “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Ông châm biếm sâu cay những cây bút thiếu bản lĩnh, a dua chạy theo thị hiếu tầm thường”thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào” .   

 Để làm được công việc khó khăn ấy

_ Nhà văn phải “đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán, phải có lương tâm nghề nghiệp, nhất là không được cẩu thả“cẩu thả trong văn chương thật là đê tiện”             Đặc biệt Nam Cao luôn đòi hỏi

_ Nhà văn phải có tinh thần nhân đạo cao cả

Dẫu có nhiều hoài bão về nghệ thuật, nhưng Hộ (Đời thừa ) vẫn có thể hi sinh nghệ thuật cho cuộc sống, dù trong hòan cảnh nào Hộ cũng không thể bỏ người vợ gầy yếu và những đứa con thơ dại. Quan điểm tiến bộ này giúp Nam Cao có nhiều chuyển biến ngay sau khi trở thành hội viên hội văn hóa cứu quốc

Trong Sống mòn, qua nhân vật Thứ Nam Cao khẳng định “Tạng người y không cho ý cầm súng, cầm gươm, y sẽ cầm bút mà chiến đấu”.  Từ việc thấy rõ trách nhiệm phản ánh chân thực cuộc sống của nhân dân lao động

_Ông khẳng định sứ mệnh chiến đâu của nhà văn. Đó là một bước tiến vượt bậc trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân nhà văn mà còn chứng tỏ sự gặp gỡ tất yếu giữa văn học hiện thực chân chính và văn học cách mạng

2/ Các đề tài chính

a/ Trước cách mạng

Những sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tập trung vào 2 đề tài chính :

*/ Đề tài người trí thức

_ Những tác phẩm tiêu biểu : Đời thừa, Sống mòn…

_ Nhân vật chính : Là những nhà văn nghèo, những viên chức, những giáo khổ trường tư mang hoài bão đẹp khát khao phát triển nhân cách và đóng góp cho xã hội, nhưng bị xã hội bất công bị cuộc sống đói nghèo ghì sát đất. Họ đều là những nguyên mẫu từ bản thân và bạn bè của nhà văn

_ Nội dung phản ánh :

+ Phản ánh trung thực tâm trạng buồn thảm cơ cực của những trí thức tiểu tư sản nghèo, đồng thời phần nào khắc họa bức tranh đen tối, u ám của xã hội Việt Nam trước cách mạng

Nhưng giá trị thực sực của mảng đề tài này không chỉ có thế. Điều quan trọng hơn là thông qua bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo, Nam Cao đã

+ Kết tội xã hội vô nhân đạo bóp nghẹt sự sống, đẩy con người vào tình trạng chết mòn, tàn phá tâm hồn và đẩy con người trở thành thù địch với con người

+ Thể hiện cuộc đấu tranh kiên trì của họ trước sự cám dỗ, của lối sống ích kỉ, sự đầu độc của môi trường dung tục thực hiện lẽ sống nhân đạo, để vươn tới một cuộc sống cao đẹp

*/ Đề tài người nông dân

_ Những tác phẩm tiêu biểu : Chí Phèo, Lão Hạc …

_ Nhân vật chính : là những người nông dân được nhà văn lấy nguyên mẫu từ những người quen biết, thân thuộc trong làng Đại Hoàng

_ Nội dung phản ánh :

+ Phản ánh chân thực cuộc sống tối tăm, cực nhục của người nông dân sau lũy tre

+ Quan tâm đến số phận khốn khổ của những ai thấp cổ bé họng thường xuyên bị áp bức nặng nề nhất

+ Viết về quá trình tha hóa của họ nhà văn phát hiện sâu sắc : xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả thể xác lẫn linh hồn người nông dân lương thiện,đẩy họ vào cuộc sống khốn cùng không lối thoát ( Chí Phèo, Tư cách mõ, Đôi móng giò )

+ Khẳng định nhân tính và bản chất lương thiện của họ ngay cả khi bị xã hội cướp mất cả hình hài và tính cách con người ( Chí Phèo, Tư cách mõ, Đôi móng giò )

+ Chỉ ra những thói hư tật xấu của người nông dân ( Đòn chồng, trẻ con không được ăn thịt chó )

b/ Sau CM

_ Nam Cao chân thành tự nguyện đem tài năng của mình phục vụ cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Tự nguyện làm anh tuyên truyền viên nhãi nhép .

_ Tác phẩm tiêu biểu : Đôi mắt và Nhật ký ở rừng.

3/ Phong cách nghệ thuật

_ Luôn đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hành động bên ngoài

_ Có khuynh hướng tìm vào nội tâm, đi sâu vào thế giới tinh thần của con người

_ Ông là nhà văn có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật

_ Mạch tự sự của tác phẩm Nam Cao thường đảo lộn thời gian và không gian tạo nên kiểu kết cấu tâm lí

_ Ông thường viết về cái nhỏ nhặt xoàng xĩnh trong đời sống từ đó đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn

_ Nam Cao là nhà văn có giọng điệu riêng : buồn thương chua chát; dửng dưng lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương

III/ Kết luận

Gọi học sinh đọc sách giáo khoa

 

                                    B/ Tác phẩm Chí phèo                  

@/  Nhan đề tác phẩm

_ Nhan đề đầu tiên của tác phẩm là Cái lò gạch cũ, phải chăng tác giả muốn nói đến sự  luẩn quẩn bế tắc gắn với hình ảnh Chí Phèo ở đầu truyện, khi còn là thằng bé đỏ hỏn được cuốn trong một cái váy dụp vứt ở cái lò gạch bỏ hoang và hình ảnh cuối truyện : Thị Nở sau khi nghe tin Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự sát đã nhớ lại những lúc gần gũi với hắn và nhìn nhanh xuống bụng rồi thoáng thấy hiện ra cái lò gạch cũ bỏ không ở nơi vắng người qua lại ? Có thể sẽ có một Chí Phèo con ra đời cũng ở cái lò gạch ấy để “nối nghiệp” bố. Như vậy Cái lò gạch cũ như là biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm

_ Nhưng khi in thành sách năm 1941, nhà xuất bản Đời Mới tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Nhà xuất bản muốn hướng sự chú ý của bạn đọc vào Chí Phèo và thị Nở, một con quỉ dữ của làng Vũ Đại “mặt mũi bị vằn dọc, vằn ngang” và một mụ đàn bà xấu “ma che quỉ hờn”. Cách đặt tên như thế là rất giật gân, gây sự tò mò, phù hợp với thị hiếu của lớp công chúng thời bấy giờ

_ Mãi đến năm 1946, tác giả mới đặt lại là Chí Phèo

@/ Vị trí tác phẩm

_ Đến Chí Phèo Nam Cao khẳng định được tài năng của mình : trình độ nghệ thuật bậc thày của một nhà văn lớn

_ Tác phẩm còn là kiệt tác của văn xuôi Việt Nam hiện đại, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc

@/ Tóm tắt tác phẩm

Chí Phèo nguyên là một đứa con hoang bị bỏ rơi từ khi mới lọt lòng trong một cái lò gạch bỏ hoang. Lớn lên anh đi làm thuê cho nhà Lí Kiến. Vì ghen với anh canh điền trẻ hay được bà ba gọi lên bóp chân xoa bụng hay đấmlưng gì đấy, Lí Kiến đã đẩy Chí phải đi tù. Sau bảy tám năm biệt tích trở về, bộ dạng tính nết hắn hoàn toàn khác trước. Vừa về hắn đã say khướt cầm vỏ chai đến nhà Bá Kiến chửi bới rạch mặt ăn vạ. Lão Bá khôn róc đời đã xử nhũn, biến Chí thành chỗ đày tớ tay chân. Từ đó Chí trở thành quỉ dữ của làng Vũ Đại. Một đêm trăng sáng, trong một cơn say Chí gặp thị Nở. Chúng ân ái với nhau, rồi nửa đêm Chí bị cảm. Sáng hôm sau tỉnh dậy, nghe thấy âm thanh cuộc, làm hắn nhớ lại ước mơ xưa và nhận ra tình cảnh khốn khổ của mình. Giữa lúc đó Thị Nở đến với nồi cháo hành bốc hơi. lần đầu tiên được một người đàn bà chăm sóc khiến hắn cảm động. Hắn thèm lương thiện, muốn làm hoà với mọi người, Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Nhưng chuyện không thành. Tuyệt vọng, Chí lại uống rượu và ôm mặt khóc rưng rức. Hắn say và lại xách dao đi . Định đến nhà Thị nở để giết con khọm già những bước chân lại đưa hắn đến nhà Bá Kiến. Chí chỉ tay vào mặt lão và thét : Tao muốn làm người lương thiện…Ai cho tao lương thiện…Tao không thể là người lương thiện được nữa. Và hắn rút dao đâm chết Bá Kiến rồi cũng tự kết liễu đời mình

@/ Thể loại – đề tài
10371754_776395955738144_2640605344909528930_n

1/ Thể loại : Truyện ngắn nhưng có dung lượng tiểu thuyết

2/ Đề tài : về người nông dân; Nam cao đến muộn nhưng lại có những phát hiện mới

@/ Đọc – Hiểu

I/ Giá trị hiện thực

Văn hoc bao giờ cũng phản ánh cuộc sống. Ngòi bút Nam Cao quan tâm phản ánh hiện thực cuộc sống đầu tiên đó là

a/ Làng Vũ Đại, hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời

_ bởi vì,  Làng Vũ Đại có một hệ thống tôn ti trật tự, ngôi thứ rõ ràng

Làng chỉ có hơn 2000 dân, xa phủ, xa tỉnh; trên cùng là cụ tiên chỉ Bá Kiến, rồi đến lớp đàn anh là bọn cường hào ; bên dưới là hạng đàn em dân cùng đinh cổ cày vai bừa, trong số này, có hạng “cùng hơn cả dân cùng”. Đó thực sự là một bức tranh xã hội nông thôn xưa.

Song điều mà Nam Cao quan tâm hơn cả không phải phong tục tập quán dân quê, hay các mối quan hệ gia đình, không đi vào khai thác chất thơ của đời sống thôn quê như bối cảnh chung của văn học hiện thực 30 – 45, mà ông đi vào thực chất mối quan hệ xã hội phức tạp bên trong nó. Mà trước hết là

_  Mối quan hệ trong nội bộ bọn cường hào

Chẳng phải vì đất làng Vũ Đại có cái thế “quần ngư tranh thực” như lời ông thày địa lí nào đó nói “hồi năm nọ” nên bọn cường hào làng này

+ chia thành năm bè bảy cánh đối nghịch nhau, mà chính là do bọn chúng “chỉ là một đàn cá tranh mồi”, “mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bảy bối, bè nào cũng muốn ăn.

+ Ngoài mặt thì tử tế với nhau nhưng trong bụng lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ”…

…”Mừng nhất là kì hào trong làng. Họ tuôn đến để hỏi thăm, nhưng chính là để nhìn lí Cường bằng những con mắt thoả mãn và khiêu khích. Đội Tảo, không cần kín đáo, nói oang oang ngay ngoài chợ trước mặt bao nhiêu người : “Thằng bố chết, thằng con lớp này không khỏi người ta cho ăn bùn”…(154)

→Qua mối quan hệ nội bộ này, Nam Cao muốn nói lên Tình trạng bè cánh tranh ăn trong bọn cường hào là rất phổ biến và có tính qui luật ở nông thôn

→Điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều mặt đời sống xã hội, trước hết là số phận người nông dân nghèo những ruồi muỗi chết oan khi trâu bò húc nhau.

Song dựng lên bức tranh xã hội ở nông thôn, Nam Cao trước hết tập trung làm nổi bật

_ Xung đột giai cấp đối kháng giữa bọn địa chủ cường hào thống trị và người nông dân lao động bị áp bức bóc lột

Trong tác phẩm, mối quan hệ đối kháng của bọn địa chủ cường hào với người dân lao động bị áp bức bóc lột thực chấtlà mối quan hệ giữa Bá kiến với Chí Phèo.  Và cũng qua mối quan hệ này, bộ mặt Bá Kiến cũng như

bọn cường hào ác bá dần được hiện lên hết sức sinh động và đầy ấn tượng. Mà trước hết là

+ Bá Kiến là một tên cường hào cáo già gian hùng

Người đọc hẳn còn mãi ấn tượng với một vài chi tiết ngoại hình như

. giọng quát “rất sang”(“bắt đầu bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh con người”),

. lối nói ngọt nhạt, và nhất là

. “cái cười Tào Tháo” (“cụ vẫn tự phụ hơn đời cái cười Tào Tháo ấy”).  Trong cái cười Toà Tháo của cụ ẩn chứa bao nhiêu là xảo quyệt, gian manh, bao nhiêu mưu kế  chưa được thực hiện. Hay qua những

. độc thoại nội tâm, phơi bày những suy nghĩ tính toán thuộc phương châm sách lược của hắn “ thế nào là mềm nắn rắn buông ? Cái nghề làm việc quan nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm”, “Một người khôn ngoan thì chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế đòi cho được 5 đồng, nhưng được rồi thì lại vứt trả lại 5 hào vì thương anh túng quá”.

Đoạn độc thoại nội tâm rất mực sinh động của “cụ tiên chỉ làng Vũ Đại” về cái “nghề tổng lí” cho thấy Nam Cao chẳng những soi thấu tim đen của nhân vật mà còn tỏ ra hiểu rất sâu các mối quan hệ xã hội ở nông thôn. Và đặc biệt là

. cách cư xử khôn róc đời…

Qua những suy nghĩ, những tính toán của lão Bá “khôn róc đời” ta thấy

→hắn thật thủ đoạn và thâm độc trong việc đàn áp và thống trị nhân dân.

Không chỉ nói đến những âm mưu thủ đoạn được đúc kết từ mấy đời làm nghề lí tưởng của lão Bá mà Nam Cao còn vạch ra cho ta thấy

+ Bá Kiến có tư cách nhem nhuốc đê tiện và bỉ ổi

.Đó là thói ghen tuông thảm hại của lão cường hào háo sắc mà sợ vợ. Ra đình thì hách dịch, cả làng phải sợ nhưng về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ. Và đặc biệt là ghen với anh canh điền khỏe mạnh thường được bà ba cho gọi lên đấm bóp. Lão cay đắng nhận ra mình “già yếu quá” mà “bà tư” thì “cứ trẻ, cứ phây phây”,”trong đĩ lắm”, “hơi một tí thì cười toe toét” “nhìn thì cũng thích nhưng mà tưng tức lạ…khác gì nhai miếng thịt bò lựt sựt khi rụng gần hết răng”.

.Đó là thói háo sắc của cụ tiên chỉ. Chẵng háo sắc mà lão lấy đến vợ ba, vợ tư Chẳng háo sắc mà lão gỡ gạc tồi tệ đối với người vợ lính vắng chồng. Hắn “không những được cơm rượu tiền túi, còn phải cho ngồi xe chung và còn ở lại tỉnh nữa”. Hắn thật xấu xa. Song nhà văn không sa vào việc miêu tả đời tư thối nát bê bối của lão cường hào mà tác giả tập trung soi sáng bản chất xã hội của hắn chủ yếu là  trong mối quan hệ với người nông dân bị áp bức

+ Tội ác tàn phá về tâm hồn, hủy diệt nhân tính của những con người lương thiện

Với phương thống trị nham hiểm “Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn”,

.Chính Bá Kiến chứ không ai khác đã xô đẩy biết bao người dân lương thiện vào con đường lưu manh hoá. Hắn đã dồn Năm Thọ, Chí Phèo vào con đường tù tội, dồn Binh Chức đến nước cùng là phải dời bỏ làng đi lính. Để rồi khi trở về làng, họ – những người một thời hiền lành lương thiện ấy đều biến thành những kẻ “hung đồ” “ương ngạnh” thành quỉ dữ trong làng. Và khi ấy

.Hắn lại tính kế lôi kéo họ vào mục đích quần ngư tranh thực :“có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn” , nếu không thì giữa đám dân lành và yên phận này khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế. Thuế một năm chỉ có một lần, nếu chỉ trông vào đấy thì có bán cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba bốn nghìn bạc chạy chọt tranh triện đồng

Không chỉ có vậy, thâm độc hơn,

.hắn biến họ trở thành tay sai đắc lực

“Không có những thằng đầu bò thì lấy ai trị những thằng đầu bò”, “thu dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù. Những thằng ấy chính là những thằng được việc : khi cần đến chỉ cho nó dăm hào uống rượu là có thể sai nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình”. Và trong những vụ đâm chém nhau ấy, kẻ nào chết “cũng cũng có lợi cho cụ cả” .

b/ Thể hiện sâu sắc tình cảnh khốn khổ của người nông dân nghèo bị áp bức

Nhà văn từng tâm niệm rằng tác phẩm của mình phải là “những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”(Trăng sáng). Và trong cảm hứng vạch khổ chung của các nhà văn hiện thực, Nam Cao có những khám phá riêng về nỗi khổ mênh mông của con người.

Ông không đi vào nạn sưu cao thuế nặng, nạn chiếm đoạt ruộng đất, nạn tô tức, quan lại tham nhũng, thiên tai địch hoạ, mà

Nhà văn đã chỉ rõ nỗi thống khổ ghê gớm nhất của người nông dân là : Họ bị xã hội tàn phá về tâm hồn, huỷ diệt cả nhân tính, do đó bị phủ nhận giá trị tư cách làm người

Nỗi thống khổ ghê gớm của Chí Phèo không phải ở chỗ tất cả cuộc đời của người nông dân cố cùng này chỉ là một con số không : Không nhà cửa, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất căm dùi, cả đời không biết đến một bàn tay chăm sóc của đàn bà nếu không gặp thị Nở.

mà nỗi khổ của anh chính là ở chỗ : anh bị xã hội rạch nát cả bộ mặt người, cướp đi linh hồn người, để bị loại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm thú vật.

*/Mở đầu thiên truyệnlà hình ảnh hết sức sống động, độc đáo : Chí Phèo khật khưỡng vừa đi vừa chửi. Hắn từ “chửi trời” đến “chửi đời” rồi “chửi ngay tất cả làng Vũ Đại”… Và hắn bỗng tức tối khi thấy “không ai lên tiếng cả”…Trong sơn say, hắn vẫn cảm thấy mơ hồ mà thấm thía “nông nỗi” khốn khổ của thân phận không có người nào chịu chửi lại hắn ! Có nghĩa là tất cả mọi người đã dứt khoát không coi hắn là người. Chửi lại hắn nghĩa là còn thừa nhận hắn là người, là còn bằng lòng giao tiếp đối thoại với hắn. Chí Phèo chửi cả làng với hi vọng được người nào đó chửi lại. Những tín hiệu yêu cầu giao tiếp phát đi liên tục đó lại chỉ gặp sự im lặng đáng sợ. Và chỉ vẫn còn lại một mình Chí Phèo trong sa mạc cô đơn : hắn cứ chửi rồi lại nghe”, “chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu. Cách mở đầu đột ngột của thiên truyện chẳng những đã giới thiệu thật hấp dẫn tính cách độc đáo của nhân vật mà còn hé mở cho ta thấy tình trạng bi đát của một số phận : Chí đã bị cả xã hội từ chối quyền làm người. Chị Dậu khổ vì phải bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị ẫn còn được là người trong khi Chí Phèo phải trở thành con quỉ dữ làng Vũ Đại. Qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao Không chỉ cho ta thấy tình trạng bi đát của số phận, còn cho ta thấy

­*/ Quá trình tha hoá trở thành quỉ dữ làng Vũ Đại của Chí Phèo, của người nông dân

_Trước khi đi tù

+ Chí Phèo vốn là người nông dân nghèo khổ, hiền lành, lương thiện.

.Chí là đứa con rơi không cha không mẹ không họ hàng thân thích, không nhà cửa đất đai “một anh đi thả ống lươn…”. Chí được các gia đình nông dân nghèo hiếm hoi nuôi sống.Lớn lên, Chí đi ở hết nhà này đến nhà khác.Những kẻ tàn ác như Bá Kiến cũng phải nhận thấy Chí Phèo“hiền như cục đất”.

.Chí là người có phẩm chất trong sạch, tự trọng.Chí chỉ thấy nhục chứ không thấy thích khi phải đấm bóp hầu hạ bà Ba nhà cụ Bá.

 .Chí từng ước mơ có một cuộc sống lương thiện.Hàng chục năm sau khi tỉnh rượu, Chí nhớ lại “một thời hắn ước ao có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải

→Tóm lại Chí Phèo là một điển hình của người nông dân nghèo khổ nhưng lương thiện, trong sạch có đủ điều kiện để sống hạnh phúc

+ ở tù ra Chí trở thành kẻ lưu manh tội lỗi

Nhẽ ra với khả năng lao động và phẩm chất lương thiện, biết tự trọng, Chí Phèo phải được sống yên ổn hạnh phúc với ước mơ nhỏ bé bình dị của mình, nhưng vì

.Bị Bá Kiến ghen và vu oan, Chí bị bỏ tù

. Nhà tù và chế độ thực dân, phong kiến thối nát đã lưu manh hoá, truy lạc hoá Chí Phèo, làm mất đi ở anh nhân cách phẩm chất của một người cố nông hiền lành lương thiện

Chí trở về làng với bộ dạng ngược đời, sinh hoạt bệnh hoạn, trở thành cái vạ cho dân làng Vũ Đại : “Đầu tài trọc lốc, răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen, mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết !”, “Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ sáng đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà Bá Kiến” chửi bới và ăn vạ. Chí chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi “cha đứa nào không chửi nhau với hắn và chửi cả đứa chết mẹ nào đã đẻ ra Chí Phèo Càng bế tắc, càng giận đời, Chí phèo phản ứng gay gắt, quyết liệt với số phận với xã hội. Hắn say triền miên, liều mạng gây gổ, ngay cả bọn cường hào làng Vũ Đại cũng phải sợ cái liều lính của Chí.

→Sự tha hoá của cuộc đời Chí là bản cáo trạng đối với Chế độ thực dân phong kiến thối nát vô luân đã xô đẩy biết bao nhiêu người nông dân nghèo khổ lương thiện vào con đường bần cùng hoá và lưu manh hoá

+ Không chỉ bị lưu manh hóa, Chí Phèo mất phương hướng bị lợi dụng trở thành tay sai đắc lực của bọn cường hào, trở thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại

Từ chỗ hung hăng đến nhà bá kiến, tuyên bố “liều chết với bố con lão”, nhưng chỉ cần mấy câu nói ngọt xớt, chuỗi cười Tào Tháo và mấy hào chỉ, Chí đã trở thành tên tay sai mới của Lão. Trong cơn say triền miên, Chí đã trở thành lực lượng phá hoại mù quáng thậm chí bị kẻ thù lợi dụng làm công cụ áp bức bóc lột dân lành. Chí Phèo trở thành nỗi lo sợ cho bao gia đình lương thiện khá

Thế là từ một anh canh điền hiền lành, bị Bá Kiến đẩy vào tù; nhà tù thực dân – chỗ dựa tin cậy của bọn phong kiến đã tiếp tay cho lão Bá giết chết phần người trong Chí, biến Chí thành Chí Phèo, biến người nông dân lương thiện thành một con quỉ dữ.Và hiện tượng Chí Phèo, hiện tượng người nông dân hiền lành bị tha hoá không phải là hiện tượng cá biệt

Trong những truyện ngắn khác, nhà văn cũng đã đưa ra những nhân vật vốn hiền lành đã trở nên ngang ngược bất trị : Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò), Cu Lộ (Tư cách mõ), Đức (Nửa chừng xuân). Và trong tác phẩm Chí Phèo là Năm Thọ, Binh Chức những bậc tiền bối gần gũi của hắn. Cả cái chi tiết cái lò gạch thoáng xuất hiện trong đầu thị Nở ở cuối tác phẩm cũng đầy ý nghĩa . Biết đâu chẳng có một Chí Phèo con bước ra từ cái lò gạch cũ ấy vào đời để nối nghiệp bố. Rõ ràng câu chuyện toát lên một điều : Hiện tượng Chí Phèo chưa hết khi  cái trật tự tàn bạo đương thời còn ra sức áp bức bóc lột thậm tệ người dân lương thiện.

Nam Cao thực sự tỉnh táo khi ông vạch ra rằng

→Chí Phèo là một hiện tượng có tính qui luật, tính phổ biến, sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột tàn tệ ở nông thôn Việt Nam trước đây.

Sức mạnh phê phán, ý nghĩa điển hình của hình tượng Chí Phèo trước hết là ở chỗ đã vạch ra thật hùng hồn  cái hiện tượng có tính qui luật ấy .

 Sự biến đổi dữ dội trong tính cách Chí Phèo đưa đến cho người đọc nỗi xót xa và căm giận xã hội cũ thối nát đã huỷ hoại ghê gớm phẩm chất, nhân cách người lao động

Nhưng giá trị độc đáo nhất của tác phẩm không phải ở mặt phê phán mà còn ở giá trị nhân đạo

II/ Giá trị nhân đạo

Cảm thông với nỗi thống khổ của người nông dân bị đè nén áp bức đến cùng cực đã là nhân đạo. Nhưng không chỉ có thế, ngòi bút nhân đạo của tác giả còn đi sâu

1/ Phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của nhưng con người khố khổ ngay cả khi tưởng như họ đã bị xã hội tàn ác cướp mất hình người và tính người : Chí Phèo thức tỉnh nhận ra tình trạng đáng sợ của mình và khao khát lương thiện.

Trong con mắt của dân làng Vũ Đại, Chí Phèo là một thằng không cha không mẹ, chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Hắn say triền miên, chưa bao giờ hắn tỉnh. Nhưng sau cái đêm gặp thị Nở, bị cảm thì

a/ Hắn thực sự tỉnh rượu và bắt đầu có ý thức về cảm giác

+ Hắn ý thức được tình trạng sức khoẻ của mình

“Hắn thấy miệng đắng”, “người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc”, “ruột gan nôn nao lên một tí”. Chí nhận thấy

                      →Hắn đã già và bắt đầu ốm yếu. “Trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời đã trở rét, nay mùa đông đã đến”. Hắn “như trông thấy trước tuổi già của mình”. Hắn đâu còn là một anh lực điền khoẻ mạnh. Thời kì liều lĩnh cậy sức khoẻ đã chấm dứt. Nói cách khác

                  → Trận ốm đã làm Chí thay đổi hẳn về mặt sinh lí

Tỉnh dậy sau một cơn say dài, hắn không chỉ nhận thức ra tình trạng của mình mà

 + Hắn còn nghe thấy âm thanh cuộc sống :

Tiếng chim hót ngoài kia vui quá…Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Tiếng cười nói của những người đi chợ về. Những âm thanh quen thuộc ấy hôm nào chả có nhưng sao mãi tận hôm nay hắn mới nghe thấy. Và

→Tiếng vọng của cuộc sống đời thường đã lay động lương tâm hắn, đánh thức linh hồn hắn

Đặc biệt là cùng với ý thức, Chí đã

b/ Tỉnh ngộ :  * Trí nhớ cũng dần trở lại theo đúng qui luật :

Qua mẩu chuyện làm ăn buôn bán của những người đi chợ về

+ Hắn nhớ đến ước mơ xưa

 “Chí Phèo nhớ đến hồi nào rất xa xôi, hắn từng ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng làm ruộng, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ thêm một con lợn nuôi làm vốn. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng”. Đúng là một ước mơ nhỏ bé bình dị biết bao, nói lên

→ bản chất lương thiện của Chí Phèo mà ngày thường bị che lấp bởi cái vỏ nghiện rượu, cướp giật.

Và cùng với sự thay đổi về mặt sinh lý

              * Chí Phèo thay đổi về mặt tâm lý

Cái thằng Chí Phèo chưa biết sợ ai trong làng Vũ Đại ( kể cả vây cánh của đội Tảo) ấy vậy mà

+ Lần đầu tiên hắn biết sợ

“ Chí như trông thấy tuổi già của hắn, đói rét ốm đau, và cô độc, cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau”. “Hắn đã sang bên kia dốc của cuộc đời”, đã già mà vẫn cô độc. Lần đầu tiên tỉnh tảo sau một cơn say triền miêm

         → Chí Phèo cảm thấy lo sợ cho thân phận của mình.

Hiện tại thật đáng buồn, tương lai lại còn buồn hơn. Sau một cơn say dai, lần đầu tiên hắn tỉnh, lần đầu tiên nhận ra sự hiện diện của mình, đối mặt với chính mình. Và đồng thời cũng lần đầu tiên hắn nhận ra tình trạng bế tắc tuyệt vọng của mình

Giữa lúc ấy thị Nở đến với nồi cháo hành khiến

c/ Hắn ngạc nhiên

Chí sinh ra không cha không mẹ, không người thân thích, hoàn toàn cô độc. Từ khi đi tù về, cả làng Vũ Đại ai cũng khinh, cũng ghê sợ Chí như quỉ dữ. Có ai tự nhiên cho hắn cái gì. Hắn muốn ăn phải cướp giật, phải rạch mặt ăn vạ. Giờ bỗng nhiên có một người đàn bà săn sóc hắn. Lại săn sóc vào đúng lúc hắn cảm thấy yếu đuối nhất, cô đơn nhất. Nên hắn cảm thấy “mắt hình như ươn ướt”

+ Hắn ứa nước mắt .

 → hắn cảm động vì cái tấm lòng, cái tình người của thị Nở.

Và như thế, Chí đã trở lại con người thật của anh canh điền trong trắng năm xưa. Trong con người anh

  →ý thức lương thiện, tình người đã trở lại  và có bước phát triển cao hơn

Nhìn bát cháo hành bốc khói mà

+ Hắn bâng khuâng vừa vui vừa buồn và có cái gì đó nữa giống như ăn năn hối lỗi

Và vì thế bát cháo hành của thị có đáng là bao mà sao Chí thấy thật thơm, thật ngon như không có gì ngon đến thế. Và cũng qua bát cháo hành,

+ Chí nhận thức ra một chân lí giản đơn : Những người suốt đời không ăn cháo hành, không biết cháo hành ăn rất ngon”,cũng như Chí chưa ném mùi vị của tình người chưa thể biết nó tốt đẹp như thế nào.

Càng tỉnh táo tiếp xúc với thế giới, hắn càng khám phá ra những điều mới lạ, tốt đẹp.Thậm chí hắn thấy lòng mình thành trẻ con

+ Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ

“Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là thằng Chí Phèo vẫn đập đầu rạch mặt, đâm chém người”

→ Tâm thế của Chí được nâng dần lên

d/ Hắn khao khát lương thiện

“Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao. Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì làm sao người khác lại không thể được. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai. Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng thân thiện của những người lương thiện”

  __ Hắn cần tình thương, khao khát được trở về với cuộc sống lương thiện.

→  Khát vọng cháy bỏng mãnh liệt như một nhu cầu của cơ thể(thèm- biết bao)

e/ Hắn mong ước hạnh phúc :

“Hắn thấy tự nhiên nhẹ người. Hắn bảo thị : Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ ?”, “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”

èĐó là kiểu cầu hôn rất Chí Phèo. Tận sâu trong đáy lòng quỉ dữ vẫn khát khao hạnh phúc

è Nam Cao khẳng định sức sống bất diệt,cho dù hoàn cảnh nào họ cũng khát khao hạnh phúc

è Kêu gọi hãy tin vào bản chất con người, hãy xây đắp tình người à giá trị nhân đạo

(Bài học🙂Sống ở trên đời cần có sự quan tâm chia sẻ, cần có một tấm lòng yêu thương giữa con người với con người.Tình yêu và tình thương sẽ làm giảm bớt thù hận

→Sự thay đổi tính cách cũng như tâm lí của Chí Phèo là do tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân chứ không đơn thuần chỉ do ảnh hưởng của tấm lòng thị Nở. Nhưng có thể nói èsự chăm sóc chân tình của thị Nở là tác động cuối cùng quan trọng, góp phần tạo nên sự biến đổi đó. Nó như giọt nước cuối cùng làm tràn cốc nước. Qua đây chứng tỏ biệt tài miêu tả phân tích tâm lí của Nam Cao. èQuá trình vận động tính cách của Chí từ một thằng lưu manh chuyên sống bằng nghề rạch mặt ăn vạ đến khi khao khát trở lại làm người lương thiện được Nam Cao miêu tả hết sức sinh động như một quá trình tự vận động tính cách

Không chỉ phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của nhưng con người khốn khổ, mà Nam Cao còn

2/ Thể hiện sâu sắc bi kịch bị cự tuyệt làm người của họ

a/ Chí Phèo bị từ chối làm người

Chí Phèo thèm cuộc sống lương thiện, ước mong hạnh phúc, hi vọng thị Nở chấp nhận được thì cả làng Vũ Đại cũng có thể chấp nhận được. Nhưng  đây vẫn chỉ là khao khát, là ước mơ. Bi kịch của Chí Phèo được đẩy lên cao khi hi vọng trở về với cuộc sống lương thiện bị từ chối

Sau năm ngay yêu nhau say đắm với Chí Phèo, đến ngày thứ sáu, thị nhớ ra rằng : Hãy dừng yêu để hỏi bà cô thị đã. Nhưng Thị bị

_ bà cô từ chối

“bà gào lên như một con mẹ dại, bà xỉa xói vào mặt con cháu gái vì bà không thể chịu nổi cháu bà lại đâm đầu đi lấy thằng không cha, cái thằng chỉ có nghề rạch mặt ăn vạ”

Sự từ chối của bà cô thị Nở đâu chỉ đơn thuần là sự từ chối mang tính cá nhân mà còn là  →Sự từ chối của cả làng Vũ Đại

Bởi trong suy nghĩ của mọi người Chí đâu còn là con người, Chí chỉ là một con vật lạ, con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Hôm nay linh hồn hắn trở về nhưng không ai nhận ra hắn.

Có biết bao thế lực xô đẩy Chí vào con đường tội lỗi, nhưng suốt hơn chục năm qua kể từ khi Chí ra tù về làng Vũ Đại, không hề có một cơ may nào, chẳng có một bàn tay thân thiện nào chìa ra dắt Chí trở về với cuộc sống lương thiện. Mối tình với thị Nở vừa mới mở ra những hi vọng lớn lao. Nhưng nó bỗng vụt tắt. “Thị trút vào mặt hắn tất cả những lời thậm tệ của bà cô thị”

Trước sự trút giận của thị khiến

_“hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu ra, hắn bỗng nhiên ngẩn người mà tâm trí chưa hết ám ảnh bởi hơi cháo hành của thị

Hắn ngẩn người bởi hắn bắt đầu hiểu ra sự thật : Tình yêu đến, tình yêu đi thật đột ngột. Hắn còn ám ảnh hơi cháo hành bởi hắn chưa quên và không thể quên được hương vị tình người mà thị đã dành cho hắn. Nên có thể nói

   →Hắn hiểu ra sự thật mà chưa chấp nhận nổi sự thật bởi hắn chưa quên được hương vị tình người.

Càng không quên được hương vị của tình yêu, Chí Phèo càng khao khát trở về với cuộc sống lương thiện. Nên lúc thị Nở vùng vằng bỏ ra về có nghĩa là cơ hội trở về cuộc sống làm người sắp tuột khỏi tay,

_ Chí Phèo “sửng sốt đứng lên gọi lại”, rồi “đuổi theo, nắm lấy tay thị”

  → Hắn nhẫn nhực bám víu lấy thị  như kẻ sắp chết đuối dồn hết sức lực bám chặt lấy chiếc phao mong manh. Nhưng “thị gạt ra lại giúi thêm cho hắn một cái. Hắn lăn khèo xuống sân”. Có nghĩa là :

_ Thị kiên quyết đoạn tuyệt.

Mọi cố gắng của hắn đều trở nên bất lực. Cái hi vọng được chung sống với thị Nở và sâu xa hơn là được quay trở về cuộc sống lương thiện như ngọn lửa nhỏ vừa mới le lói đã bị cuộc đời dội nước lạnh làm tắt ngấm. Chí như thấy lại những ngày tháng tối tăm cũ : say rượu, cướp giật, rách mặt. Thị Nở đã không cứu vớt được cuộc đời hắn. Mọi nẻo đường trở về cuộc sống lương thiện đã đóng sập trước anh

→ Hi vọng vụt tắt, Chí Phèo bị lâm vào bi kịch của kẻ bị cự tuyệt làm người

 Quá trình phát triển tâm lí tính cách của Chí Phèo vẫn là quá trình tự ý thức, tự nhận thức được bi kịch bị cự tuyệt làm người của mình.

Trong cơn tuyệt vọng,

_ Chí Phèo lại uống rượu,

Nhưng càng uống càng tỉnh, cái tỉnh của người muốn sống cho ra sống mà bất lực. Nỗi bất hạnh của hắn giờ đây còn nặng gấp trăm lần bất hạnh trước đó hắn đã từng trải qua. Và vì thế càng uống hắn càng buồn “hơi rượu không sặc sụa,

_ Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”,thoang thoảng hương vị tình yêu mà ngay cả trong lúc tuyệt vọng nhất hắn cũngkhông thể quên hương vị tình yêu. Bởi vậy

_ Hắn ôm mặt khóc rưng rức

  →Đó là tiếng khóc tức tưởi đau khổ của một con người bị dồn nén đến bước đường cùng.

Nhưng “rồi lại uống. Rồi lại uống”. Cuối cùng thì

_ Hắn say mềm và xách dao đi

Định đến nhà thị Nở để giết con khọm già nhưng bước chân lại đưa đến nhà Bá Kiến. Phải chăng là ngẫu nhiên

Có lẽ đây là trạng trái dở tỉnh dở say rất kho phân biệt ranh giới cho rạch ròi. Say vì định đến nhà thị Nở để giết con khọm già mà lại đến nhà Bá Kiến. Tỉnh vì hình như trong tâm hồn u tối của anh ta có cái gì đó loé sáng: Anh đã nhận ra kẻ đã cướp đi quyền làm người và phẩm giá con người của anh. Đặc biệt khi Chí nhìn thấy Bá Kiến, có lẽ lúc đó anh tỉnh hẳn. Nên

_ Chí phèo chỉ thẳng mặt Bá Kiến đòi làm người lương thiện

 “Tao muốn làm người lương thiên…Ai cho tao lương thiện…Tao không thể là người lương thiện được nữa

Tao muốn làm người lương thiện, đó là câu nói thành thật nhất trong cuộc đời bị tha hoá khủng khiếp của Chí Phèo. Lúc Chí say nhất cũng là lúc Chí tỉnh nhất để kịp nhận ra nghĩa lí của cuộc sống chính là nằm ở hai chữ lương thiện. Để rồi điều đó trở thành khát khao cháy bùng ngọn lửa hận thù : Ai cho tao làm người lương thiện…Tao không thể là người lương thiện được nữa… Đó là sự tự nhận thức sâu sắc nhất của Chí. Ai có thể làm cho anh được điều đó khi bao vây quanh anh chỉ là những lừa lọc gian xảo, chép giết cướp giật.

        → ấy là kẻ nô lệ thức tỉnh đòi quyền làm người.Đó là lời đanh thép vạch mặt, kết án tên cường hào ác bá, cũng là tiếng kêu thương tuyệt vọng của kiếp người đau khổ. Và cũng là cách đòi hỏi quyền sống một cách tuyệt vọng của người nông dân như Chí Phèo.

Vẫn còn đó trên khuôn mặt anh vằn vện những vết sẹo. Anh đã lún quá sâu vào tội ác. Xã hội bằng phẳng ấy không có chỗ cho anh đứng . Còn quay về với cuộc sống thú vật ư ? Kiên quyết không. Quá trình thức tỉnh ấy dẫn đến hành động

_ Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình

Vậy theo em hành động của Chí Phèo phải chăng là hành động của kẻ say của một gã lưu manh ? ( Nhận xét cái kết của tác phẩm )

Lúc Chí say nhất cũng là lúc Chí tỉnh nhất để không chỉ kịp nhận ra nghĩa lí của cuộc sống lương thiện.Mà lúc anh say nhất cũng là lúc anh tỉnh nhất để nhận ra kẻ thù của mình.

Vụ án không ngờ và kết thúc bất ngờ hết sức thê thảm ấy nó chứng tỏ

   →Chí Phèo đã hoàn toàn thức tỉnh. Chí Phèo đâm chết Bá Kiến

   →là hành động lấy máu rửa hờn của người nông dân cùng khổ đã thức tỉnh về    

         quyền sống uất ức vùng lên.

 Để Chí Phèo đâm chết Bá Kiến, Nam Cao chứng tỏ cảm quan hiện thực xã hội đặc biệt nhạy bén  khoẻ khoắn hiếm có.

→Nhà văn đã cảm thấy tính khốc liệt của mối xung đột giai cấp ở nông thôn không có gì thể xoa dịu, càng nén xuống càng dễ bùng nổ.

Đâm chết Bá Kiến, Chí Phèo cũng đã tự kết liễu đời mình. Anh ta chết bi thảm quằn quại trên vũng máu của mình, chết trong tiếng kêu uất hận đau thương đầy xót xa ám ảnh

Vậy tại sao tác giả lại để cho Chí Phèo chết khi mà kẻ thù của anh là Bá Kiến cũng đã chết ?

Trước mặt Chí Phèo đâu chỉ có một Bá Kiến, mà còn nhiều Bá Kiến khác. Hơn nữa, cả xã hội đã dứt khoát từ chối quyền làm người của anh. Để bám lấy cuộc sống, Chí Phèo đã phải từ bỏ nhân phẩm, bán linh hồn cho quỉ dữ. Nay ý thức nhân phẩm thức dậy, linh hồn anh đã trở về, anh làm sao có thể chấp nhận cuộc sống tối tăm, cuộc sống thú vật, cuộc sống quỉ dữ làng Vũ Đại. Không ! Dứt khoát không thể được ! Hoặc là chết hoặc là tiếp tục làm quỉ dữ làng Vũ Đại ? Anh còn có thể chọn con đường nào khác khi lương tâm anh không muốn. Anh đã phải chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc đời khi cánh cửa cuộc đời đóng chặt trước anh. 

Việc Chí Phèo tự sát có ý nghĩa như thế nào ?

→Cái chết của Chí Phèo vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.

Nó hiện thực bởi nó có ý nghĩa

         → tố cáo xã hội chỉ biết huỷ diệt chứ không biết dung thứ con người, không biết đón nhận những linh hồn lầm đường lạc lối muốn trở về với cuộc sống à Chí  Phèo không có chỗ để dung thân

Nhưng cái chết của Chí Phèo còn

         thể hiện cái nhìn nhân đạo của Nam Cao ở chỗ : trong cái hình dạng và bộ mặt quỉ dữ, ông vẫn nhận ra phần nhân tính, bản chất trong sáng lương thiện của con người Chí Phèo à cái nhìn trân trọng của tác giả

       Nhưng đó cũng là cách giải quyết bế tắc

Tóm lại  : Hành động của Chí Phèo được coi là bước ngoặt trong sự phát triển tâm lí tính cách nhân vật. Bước ngoặt này hết sức bất ngờ, đột ngột nhưng lại hoàn toàn phù hợp với sự phát triển nội tại của tính cách tâm lí Chí Phèo. Bước ngoặt này được bắt nguồn từ sự tự nhân thức, tự ý thức để rồi chuyển hoá thành hành động dứt khoát này è Nam Cao đã tạo nên chiều sâu tâm lí tính cách của nhân vật

III/ Giá trị nghệ thuật

–   Xây dựng thành công những nhân vật điển hình bất hủ

–   Tài phân tích diễn biến tâm lí nhânh vật

–   Ngôn ngữ trần thuạt linh hoạt, tự nhiên mà vẫn nhất quán chặt chẽ

IV/ kết luận

Qua tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao  tố cáo mạn mẽ xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo đã cướp đi của người nông dân lương thiện cả nhân hình lẫn nhân tính. Đồng thời nhà văn trân trọng phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của những con người này ngay khi tưởng chừng họ đã biến thành quỉ dũ

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: