Phía trước là chân trời

Ôn Đời thừa của Nam Cao

Posted by thaidung1611 on 11/06/2014

I/ MỞ BÀI
Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một cây bút xuất sắc của văn học hiện thực phê phán trước năm 1945. Nhà nhân đạo ấy đã để lại cho đời những tác phẩm thật sự có “tấm lòng lớn” như “Đời thừa”, “Chí Phèo”. Trong đó, “Đời thừa” đã để lại dấu ấn của Nam Cao về giá trị nhân đạo sâu sắc và mới mẻ.
Cảm thụ tác phẩm đời thừa có nghĩa là chúng ta đi tìm hiểu tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ. Đề rồi qua tác đó ta hiểu sâu sắc hơn giá trị nhân đạo của tác phẩm cũng như biết thêm quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng.
II/ THÂN BÀI :
(1/Khái quát:) Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của một tác phẩm văn học. Nó dựa trên niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn đối với số phận nhân vật. Nhà văn từ lòng thương người mà lên án tố cáo những thế lực đã chà đạp lên quyền sống của con người. Cũng từ lòng nhân đạo, nhà văn cũng phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người và kêu gọi giải phóng cá nhân ra khỏi những khổ đau và bất hạnh.
Truyện ngắn “Đời thừa” ra đời năm 1943, là tác phẩm phản ánh sâu sắc và rõ nét về cuộc sống của những người trí thức tiểu tư sản nghèo ở nước ta trong bối cảnh đất nước bị ngoại bang giày xéo. Tác phẩm đã gây tiếng vang lớn và thực sự trở thành “tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Nam Cao đã phản ánh một cách rõ nét và chân thực những bi kịch lớn của người trí thức đương thời và cất tiếng kêu cứu thảm thiết đòi quyền sống cho họ
(2/ Phân tích
Nếu chúng ta hiểu bi kịch (nghĩa Tính từ) diễn tả trạng thái tâm hồn cuả con người khi có một khát vọng mãnh liệt bị hoàn cảnh ngăn trở, đè bẹp không thực hiện được. Thì cuộc đời Hộ là những tấn bi kịch lớn. Với tư cách một nhà văn – một trí thức giữa “cơn dâu bể” của cuộc đời, giữa một xã hội “chó đểu” (Vũ Trọng Phụng), Hộ muốn giữ được phẩm giá của mình, ý thức được “thiên chức” cao cả của mình vậy mà đành bó tay bất lực.
a/ Và Nam Cao đã thực sự xót xa thương cảm trước những nỗi khổ đau của nhà văn Hộ khi sụp đổ giấc mộng văn chương lâm vào bi kịch của người trí thức muốn tự khẳng định mình trong cuộc đời nhưng lại phải chịu đựng cuộc sống vô ích, đời thừa.
Những nhân vật trí thức tiểu tư sản trong sáng tác của Nam Cao trước cách mạng thường là nhà văn, nhà giáo, thường ấp ủ một hoài bão lớn về sự nghiệp tinh thần. Hộ cũng vậy, anh là một nhà văn. Hộ ít nhiều có nguyên mẫu từ bản thân tác giả. Song ở nhân vật này, Nam Cao mới gửi gắm đầy đủ nhất, tập trung nhất hoài bão lớn của ông về một sự nghiệp văn chương.
Hộ là một người rất “mê văn”, anh bảo với Từ “Tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu vạn bạc nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi chưa chắc tôi đã đổi. Tôi cho rằng những khi được đọc một đoạn văn như đoạn văn này mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm!”
_ Với Hộ, văn chương là một niềm vui to lớn, không một lạc thú vật chất nào sánh được.
Nhưng Hộ không chỉ say mê văn chương mà anh còn :
_ Ôm ấp một hoài bão lớn về nghề văn
“Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. hắn đọc, hắn ngẫm nghĩ tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán”. Lúc ấy đối với hắn nghệ thuật là tất cả,
_ Hắn sẵn sàng hiến dâng đời mình cho nghệ thuật
Và vì thế, Hộ cũng sẵn sàng chấp nhận một cuộc sống eo hẹp, có thể nói là cực khổ để miễn là được theo đuổi nghề văn “đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng”.
Với niềm say mê trong trẻo và mãnh liệt nhưng cũng đầy lãng mạn ấy,
_ Hộ khao khát vinh quang
“ Hắn băn khoan nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hầu hết các tác phẩm khác ra cùng một thời”.Và sau này trong phút cao hứng, anh còn tuyên bố với các bạn văn “rồi các anh xem, cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nôben và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu.”
Đó phải chăng là những lời nói huênh hoang chếnh choáng hơi men cho thấy thói hám danh phàm tục của một nhà văn tiểu tư sản ?
Đặt trong văn cảnh của nó, xét cho đến cùng đó chính là biểu hiện của
 sự khao khát khẳng định cá nhân trước cuộc đời.
Cá nhân không bằng lòng với cuộc sống buồn tẻ mờ nhạt, vô danh vô nghĩa trong cái ao đời phẳng lặng. Nó khao khát làm một cái gì đó để nâng cao giá trị cuộc sống, phải làm một cái gì đó, phải có một sự nghiệp gì đó để đứng trong trời đất  để sống 1 cuộc sống có ích.
Hoàn cảnh thuộc địa tàn bạo và điều kiện kinh tế xã hội khắc nghiệt của người trí thứctiểu tư sản đã chắn hết mọi nẻo đường của họ.
_Hoài bão cao đẹp mà hộ quyết đạt tới bằng tất cả niềm say mê, ý chí phi thường của bản thân đã không thực hiện được chỉ vì một lực cản tầm thường mà ghê gớm
Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang đau đớn không bờ bến : bị một gã sở khanh bỏ rơi với một đứa bé mới đẻ.
+ Hộ đã cúi xuống nỗi đau khổ của Từ, mở rộng cánh tay đón lấy Từ”.
Trước số phận đau khổ của con người, anh không còn có thể coi nghệ thuật là tất cả mà đã  hành động như một con người chân chính.
Nhưng điều đó đã gây lên nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh.
Từ khi ghép cuộc đời của Từ vào cuộc đời của mình, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hộ không thể khinh những lo lắng tủn mụn về vật chất như trước đây. Cuộc sống của hắn đã phải thay đổi
Và “những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lý nhưng không thể không nghĩ tới đã ngốn một phần lớn thì giờ của hắn”.
Hộ không thể khinh thường đồng tiền, mà trái lại,
+ anh phải ra sức kiếm tiền. Mà với khả năng điều kiện của Hộ, cách kiếm tiền duy nhất là viết văn.
+ Vì phải kiếm tiền nên anh không thể viết theo yêu cầu khắt khe của nghệ thuật chân chính.
“Hắn phải cho in những cuốn sách vội vàng”, “phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc”
Vậy bi kịch của Hộ là ở chỗ nào ?
Giả sử Hộ bằng lòng với lối kiếm tiền ấy, bằng lòng với những tác phẩm “vô vị nhạt nhẽo” của mình. Nhưng không ! “Mỗi lần đọc lại một cuốn sách, hay một đoạn văn ký tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày nghiến răng vò nát sách mắng mình là thằng khốn nạn” .Và “chao ôi ! hắn đã viết những gì ? toàn những cái vô vị nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, đem một vài ý rất thông thường quấy loãng rong một thứ văn chương bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem lại một chút mới lạ gì đến cho văn chương thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa”. Như vậy có thể nói, Hộ rất có tự trọng, và chính vì tự trọng nên hắn cảm thấy đau đớn nhục nhã. Sự đau đớn của Hộ không phải là không được viết mà là cứ phải viết những thứ văn chương mà một cây bút chân chính, có lương tâm nghề nghiệp, có lý tưởng nghệ thuật, có khát vọng vương tới đỉnh cao nghệ thuật như anh không thể nào chấp nhận được. Nói cách khác :
+ Anh luôn dằn vặt đau đớn day dứt với lương tâm trước những tác phẩm của mình.
Tấn bi bịch tinh thần đau đớn của Họ còn là ở chỗ :
+ Anh không thực hiện được hoài bão lớn
“Còn gì đau đớn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì để nâng cao giá trị đời sống của mình mà kết cục chẳng làm được gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt”. Anh đau đớn chẳng phải vì mệt với gánh nặng cơm áo. Mà chính do gánh nặng cơm áo khiến anh không thể thực hiện được hoài bão lớn để “nâng cao giá trị đời sống”, lại cứ phải sống như một kẻ… “bất lương”, “đê tiện”… trở thành “một kẻ vô ích” “một người thừa”. Hộ buồn chán vô hạn vì thấy đời mình đã bỏ đi : Thôi thế là hết ! Ta đã hỏng ! Ta đã hỏng đứt rồi … Đó :
Nỗi đau tinh thần to lớn không nguôi và khó có gì xoa dịu đối với người trí thức có ý thức sâu sắc về một cuộc sống chân chính, có ý nghĩa, có nhu cầu khẳng định mình trước xã hội.
Vạch ra và đi sâu vào bi kịch tinh thần này,
 Nam Cao đã lên án sâu sắc cái hiện thực tàn bạo vùi dập mọi ước mơ hoài bão của con người, tước đi ý nghĩa đẹp đẽ của cuộc sống thực sự xứng đáng với con người. . Bi kịch của Hộ có nguyên nhân sâu xa chính từ xã hội đương thời. Chính xã hội ấy đã đẩy anh phải lo “cơm áo gạo tiền”. Nỗi lo sinh kế đã khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương. Và chính những thất vọng ấy đã khiến anh chà đạp lên lẽ sống tình thương của mình. Anh chưa tìm được lối thoát. Đó là cái bế tắc của thời đại mà anh đang sống
Và không chỉ có vậy,
b/ Nam Cao còn phát hiện và trân trọng nâng niu vẻ đẹp tâm hồn của nhà văn Hộ : một con người giàu lòng nhân ái qua bi kịch của con người coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất lại dẫm đạp lên tình thương.
Hộ kết cục chẳng làm được gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt.
_ Để thoát ra khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, anh phải thoát li vợ con để theo đuổi sự nghiệp văn chương, anh phải tự gỡ bỏ sợi dây ràng buộc của tình thương.
Và để làm được việc đó, anh có cả một triết lý cao siêu khuyến khích, bênh vực : “phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Đây chính là giọng điệu của chủ nghĩa siêu nhân, của Nitsơ, người tiền bối của các tư tưởng gia Phátxít. Giọng điệu ấy không phải không có sức hấp dẫn đối với những người đang khao khát “sống cho mạnh mẽ”, khao khát khẳng định mình như Hộ.
Nhưng hắn lại nghĩ thêm rằng “Từ rất đáng yêu, rất đáng thương, hắn có thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ ; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương ; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là con người. Như thế, mặc dù đau đớn bế tắc và mong mỏi được giải thoát, Hộ không chấp nhận sự tàn nhẫn
_ Hắn không vứt bỏ tình thương.
Đối với Hộ, tình thương còn là một tiêu chuẩn xác định tư cách làm người. Không có tình thương, con người chỉ là một quái vật. Và khi cuộc đời tàn nhẫn buộc anh phải lựa chọn một trong hai thứ nghệ thuật và tình thương
 Anh đã hi sinh nghệ thuật để giữ lấy tình thương
Hi sinh lẽ sống thứ nhất cho lẽ sống thứ hai, đã hi sinh nghệ thuật cho tình thương, cái mà anh còn coi trong hơn cả nghệ thuật. dù đây là sự hi sinh quá lớn, quá đau đớn đối với anh. Việc đặt tình thương vả trách nhiệm đối với con người lên trên nghệ thuật cũng như lời phát biểu thế nào là một tác phẩm có giá trị cho thấy cái gốc nhân đạo sâu sắc của Nam Cao.
Có điều tuy anh không băn khoăn dao động trong việc lựa chọn, nhưng anh vẫn “lặng lẽ nghĩ đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán”. Hắn cũng nhớ nhung một cái gì xa xôi… những mộng đẹp ngày xưa.
_ Hộ vẫn buồn khổ day dứt vì không thực hiện được ước mơ của đời mình.
Anh không tránh được mặc cảm cay đắng là mình đang sống một cách vô ích, vô nghĩa. Xét đến cùng đây chính là  Nỗi đau khổ cao quí chỉ có ở những người hiểu rõ giá trị thật sự của cuộc sống con người, khao khát nâng cao giá trị đời sống của mình “ bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội.
Thật dễ hiểu việc Hộ luôn chất chứa tâm sự u uất đau khổ. Anh cố gắng hi vọng rằng sau vài năm bỏ phí để kiếm tiền cho vợ có cái vốn con để làm ăn thì anh có thể trở lại con đường sự nghiệp. Nhưng cuộc sống cơm áo ngày càng khó khăn khiến cho hi vọng của Hộ trở thành hão huyền. Và gánh nặng gia đình với những “bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lý” chẳng những đã làm tiêu tan hi vọng về sự nghiệp của anh mà còn thường xuyên phá tan sự yên tĩnh, thư thái trong tâm hồn anh. Mà đó lại là điều rất cần thiết đối với người trí thức sáng tạo.” Hộ điên người lên vì phải xoay tiền. Hắn còn điên người lên vì con khóc, nhà không lúc nào được yên tĩnh để hắn viết hay đọc sách”, “hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá”.
+ Hắn trở nên cau có gắt gỏng với bất cứ ai, với cả chính mình.
Rồi như một thông lệ, người nghệ sĩ bất đắc chí ấy đi
+ tìm sự giải sâu trong men rượu.
Nhưng rượu không làm vơi đi mà chỉ càng nung nấu thêm nỗi sầu uất của anh. Trong cơn say, anh đã trút nó vào vợ con, những người mà anh cho là nguồn gốc trực tiếp dẫn đến tình cảnh bế tắc của cuộc đời mình.
Con người đầy tình thương, đã hi sinh tất cả vì tình thương và trách nhiệm đối với người thân ấy đã hơn một lần
+Đối xử thật phũ phàng, thô bạo với vợ con như một gã vô lại.
Nói cách khác :
_ Hắn hi sinh vì tình thương nhưng lại dẫm đạp lên tình thương.
Khi tỉnh rượu, nhớ lại hành vi của mình, Hộ hết sức hối hận. Hối hận vì đã xúc phạm, đã gây ra nỗi đau khổ nặng nề cho vợ anh, người “đã đau khổ cả một cuộc đời”, “người vợ rất ngoan, rát phục tùng, rất tận tâm” đối với anh. Và khi lại gần vợ, anh nhận ra cái dáng người “thật khó nhọc và khổ não” “cái tướng vất vả lộ cả trong giấc ngủ”, khuôn mặt xanh xao, đôi mắt thâm quầng, cùng bàn tay “xanh trong xanh lọc” “lủng củng rặt những xương”…tất cả lộ ra “một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ về vật chất, cần được hắn vỗ về an ủi”. “Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc. Ôi chao ! Hắn khóc ! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc”.
Người ta thường nói nam nhi không dễ rơi lệ.Hộ khóc chắc phải có nguyên do.
Vậy lý do ấy là gì ? Và việc Hộ khóc có ý nghĩa như thế nào ?
Hộ khóc bởi
_ Hộ đau đớn hối hận cho hành động của mình
Vì anh là người rất thương vợ con , đã hi sinh cả lý tưởng nghệ thuật vì trách nhiệm và tình thương với vợ con, đã coi tình thương là đạo lý cao nhất trong cuộc đời nhưng chính anh lại chà đạp lên đạo lý ấy, gây khổ cho người vợ rất đáng thương của anh. Nếu bi kịch thứ nhất : Không thực hiện được hoài bão, cứ phải sống cuộc vô vị như một người thừa, tuy đau đớn nhưng còn có lý do để an ủi : Hi sinh sự nghiệp vì tình thương. Thì bi kịch thứ hai đối với Hộ không có gì để biện minh, an ủi được. Vì thế mà nó chua xót vô cùng. Vì thế mà Hộ đã khóc..
Nhưng nước mắt vẫn chỉ là nước mắt, nó đâu phải là sức mạnh có thể sửa lại những cảnh đời, cứu được loài người. Nhân vật của Nam Cao vẫn bế tắc và tấn bi kịch của họ không cách gì gỡ ra được. Có điều trong cơn vật vã quằn quại, nhân vật của Nam Cao vẫn không buông xuôi để rơi vào sa ngã, trái lại ông vẫn tin của vào khả năng vươn lên trong lẽ sống nhân đạo của nhân vật. Cuối tác phẩm là hình ảnh Hộ ôm Từ vào lòng. Bao nhiêu đau đớn, bao nhiêu hối hận dồn nén lại ở Hộ để rồi bật lên thành tiếng khóc : “Anh…Anh…chỉ là … một thằng…khốn nạn..  Đó là tiếng khóc cho cái chết của một tâm hồn, tiếng khóc của sự hối hận, không phải là sự hối hận ồn ào hời hợt mà là sự giày vò giằng xé đến chảy máu của một tâm hồn trung thực khát khao hướng thiện. Đúng là nam nhi không dễ rơi lệ, nhưng trong hoàn cảnh của Hộ, nước mắt đã thanh tâm hồn, nâng đỡ nhân cách của Hộ, giữ anh lại trước vực thẳm của sự sa ngã. Chắc chắn đằng sau những giọt nước mắt ấy là sự “trở về” của nhà văn Hộ, là khát khao hướng thiện của anh
Qua những bi kịch tinh thần của Hộ Nam Cao chẳng những phản ánh chân thực tình cảnh đau khổ bế tắc của người trí thức tiểu tư sản không có chỗ đứng trong cuộc đời mà còn bộc lộ tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Nam Cao thể hiện ở việc nhà văn biết đề cao những khát vọng đẹp của người trí thức, đã biết thông cảm với những nổi khổ của họ. Và đằng sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ chính là một trái tim nhiệt thành, sôi nổi – một trái tim của tình nghĩa.

10386759_776393185738421_6647466066659711007_n (1)
2/ Quan điểm nghệ thuật tiến bộ của nhà văn Hộ
Qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã phát biểu ý kiến thật sâu sắc, thật tiến bộ về quan điểm nghệ thuật. Chính ở “Đời thừa” chứ không phải ở “Trăng sáng”, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao mới thể hiện đầy đủ chiều sâu và tầm vóc. Nếu ở “Trăng sáng”, Nam Cao viết rất thấm thía, rất hay rằng “nghệ thuật không phải là ánh trăng giả dối” tức là phải chân thực, thì ở “Đời thừa” nhà văn đi xa hơn.
_ Ông lên án thứ tả chân hời hợt
như loại tiểu thuyết phong tục từng hấp dẫn những ai hiếu kì thích biết lối sống, phong tục xứ lạ “chỉ tả được vẻ bề ngoài của xã hội”
Cũng qua nhân vật Hộ,
_ Nhà văn thể hiện quan điểm đánh giá một tác phẩm chân chính,
Theo Nam Cao, một tác phẩm có giá trị phải vượt lên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn chấn. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”
Phải chăng đó là những lời phát biểu có vẻ bốc đồng “giữa đám bạn văn chương của nhân vật Hộ trước cốc bia ? Kì thực đấy lại là những ý kiến hết sức nghiêm chỉnh, hàm súc của Nam Cao về một nghệ thuật lớn.Phải chăng nhà văn muốn nói rằng :
+ Giá trị thực sự của tác phẩm văn học không phải ở chỗ tả thực hay không mà là ở lý tưởng nhân đạo lớn lao, ở giá trị nhân loại phổ biến của nó.
+ Nó phải đề cập tới những gì liên quan đến vận mệnh loài người, thể hiện được nỗi đau nhân tình cũng như niềm tin và khát vọng của con người trong cuộc sống vật lộn vươn tới một cuộc sống nhân ái công bằng hoà hợp,
Cũng qua nhân vật Hộ Nam Cao còn phát biểu rất hay, rất xác đáng về :
_ Yêu cầu của nghề văn :
“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”
Và để cho Hộ mỗi khi đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn kí tên mình được viết ra một cách vội vàng cẩu thả lại đỏ mặt, cau mày nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn, một kẻ bất lương…chứng tỏ Nam Cao nghiêm khắc như thế nào trong lao động sáng tao nghệ thuật văn chương
II/ Kết luận
1/ Về nội dung :
Qua việc miêu tả tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tác phẩm toát lên lời kết án đanh thép cái xã hội nặng nề, ngột ngạt đương thời đã tước đoạt giá trị ý nghĩa sự sống và đầu độc tâm hồn, phá hoại nhân cách con người.
2/ Về nghệ thuật
Cốt truyện đơn giản. Nhà văn đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật, làm nổi bật bi kịch tinh thần của người trí thức. Qua đó ta cũng thấy rõ ngòi bút thật tinh tế và sâu sắc trong việc khám phá và thể hiện tâm lí nhân vật của nhà văn. Và đó chính là sức hấp dẫn của tác phẩm.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: