Phía trước là chân trời

Ôn Vĩnh biệt Cửu trùng đài

Posted by thaidung1611 on 16/06/2014

NHÂN VẬT VŨ NHƯ TÔ

I/ MỞ BÀI :

Nguyễn Huy Tưởng là một nhà văn, nhà viết kịch tài năng. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước ở làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Ông tham gia cách mạng rất sớm, gia nhập tổ chức Văn hoá cứu quốc và sáng tác văn học phục vụ cách mạng. Ông đặc biệt thành công với đề tài lịch sử ở cả hai thể loại tiểu thuyết và kịch.

Tác phẩm tiêu biểu của ông như kịch : Bắc Sơn, Những người ở lại, Đêm hội Long Trì; tiểu thyết như An Tư, Sống mãi với thủ đô, Kí sự Cao – Lạng …Trong đó để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng đọc giả là vở kịch Vũ Như Tô

II/ THÂN BÀI :

(1/ Xuất xứ và tóm tắt tác phẩm)

*/ “Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Vở kịch lịch sử gồm 5 hồi, được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác vào năm 1941,viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517.Vũ Như Tô, Lê Tương Dực, Nguyễn Vũ, Trịnh Duy Sản, An Hòa Hầu, Nguyễn Hoằng Dụ… là những nhân vật lịch sử, những nguyên mẫu mà tác giả đã dựa vào “Đại Việt sử kí toàn thư” để sáng tạo nên

*/ Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe doạ kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ,  khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Tràng Đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước, “Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi, nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…”. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng Đài. Nhưng Cửu Trùng Đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi.

Đoạn trích thuộc hồi 5 của vở kịch, cảnh diễn ra trong cung cấm. Việc xây dựng Cửu Trùng Đài đã khiến cho nhân dân vô cùng cực khổ. Trịnh Duy Sản đã lợi dụng tình hình dấy binh nổi loạn. Nhân dân, binh lính và thợ xây dựng Cửu Trùng Đài đã nổi dậy. Chúng bắt giết Vũ Như Tô, Đan Thiềm  và huỷ diệt Cửu Trùng Đài.

*/ Qua vở kịch này, (chủ đề) nhà văn đã nêu lên một vấn đề lịch sử – xã hội để mọi người cùng suy nghĩ. Đó là chức năng, vai trò của người nghệ sĩ, và mục đích của nghệ thuật. Người nghệ sĩ đem tài năng phục vụ ai? Mọi công trình nghệ thuật đều vì ai?

(2/ Ý nghĩa biểu tượng Cửu Trùng Đài)

Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công trình kiến trúc mà tầm vóc độc nhất vô nhị vượt xa tất cả những kỳ quan từng được người đời truyền tụng

Với Vũ Như Tô và Đan Thiềm: Cửu Trùng Đài là công trình kiến trúc trong mơ ước, là giấc mơ sáng tạo lớn lao, cao cả, đẹp đẽ của người nghệ sĩ muốn tạo ra “chốn bồng lai tiên cảnh giữa cõi trần lao lực”, tô điểm cho non sông, đất nước. Tầm vóc tòa lâu đài ấy không thể tính bằng gỗ cây, đá khối mà phải đo bằng ý chí ngạo nghễ của nghệ sĩ thiên tài. Cửu Trùng Đài là biểu tượng của cái đẹp siêu đẳng mà người nghệ sỹ muốn thi thố tài năng cùng trời đất. 

– Với nhà vua và triều đình: Cửu Trùng Đài là biểu tượng cho quyền lực và sự xa hoa, thối nát của giai cấp thống trị đương thời. Vua cho xây tòa lâu đài nguy nga đồ sộ, tốn kém biết bao ngân khố của quốc gia và công sức của nhân dân lao động nhưng chỉ để vua ăn chơi, hưởng lạc, thỏa mãn thói hoang dâm không giới hạn của một cá nhân. 

Với quần chúng nhân dân: Tòa lâu đài ấy được xây bằng tiền của đất nước, bằng xương máu và tính mạng của những người thợ xây đài. Đó là biểu tượng của món nợ xương máu,  lòng hờn căm chất chồng của nhân dân với giai cấp thống trị đương thời

– Với chính nó: Cửu Trùng Đài trong giấc mộng của người nghệ sĩ sáng tạo Vũ Như Tô muốn xây một công trình nghệ thuật “bền vững như trăng sao”, trường tồn, bất diệt để tô điểm cho non sông, đất nước. Nghĩa là nó là cái đẹp gắn với cái thiện nhưng trên thực tế, nó là một bông hoa ác “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Nó chỉ tồn tại ngắn ngủi như một giấc mơ đẫm máu và nước mắt của người nghệ sĩ sáng tạo và của quần chúng lao động. (0,5đ)

(3/ Những mâu thuẫn cơ bản trong vở kịch ) Chuyện xây đài cửu trùng xoay quanh  

–  xung đột giữa thợ thuyền, nhân dân lầm than với Vũ Như Tô và tập đoàn phong kiến Lê Tương Dực.

– Và còn là xung đột giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu,thuần túy (xây đài Cửu Trùng dựng kỳ công muôn thuở,sánh với trăng sao) và lợi ích trực tiếp,thiết thực của nhân dân.

→(Ý nghĩa của xung đột) :Từ những xung đột trên nhà văn đã

–        Phản ánh sinh động nỗi khổ cực của nhân dân lao động cần lao dưới thời hôn quân Lê Tương Dực. Đó là tập đoàn ăn chơi,sa đọa,bóc lột nhân dân đến tận xương tủy.

– Thể hiện tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Vũ Như Tô,vì quá đam mê thi thố tài năng mà trở thành nỗi oán giận của bao người. Đến chết vẫn chưa tỉnh giấc mộng.

– Từ đó tác giả đặt ra vấn đề muôn thuở: mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống  NGHỆ THUẬT PHẢI VỊ NHÂN SINH thì nghệ thuật mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ,nâng niu,bảo vệ.

(4/ Nhân vật bi kịch Vũ Như Tô )

(a/ Giải thích nhân vật bi kịch)

– Bi kịch là một thể loại kịch thể hiện mối xung đột không điều hoà được giữa thiện và ác, cao cả và thấp hèn, lí tưởng và thực tại,… để dẫn đến kết thúc thường là cái chết bi thảm gây cảm xúc đau thương mãnh liệt cho người đọc, người xem.

– Nhân vật bi kịch: Nhân vật mắc vào những mâu thuẫn, nghịch cảnh oan trái, éo le dẫn tới những kết cục bi đát, đau thương.

(b/ Nhân định chung)

Trong vở kịch này, Vũ Như Tô hiện lên như một tính cách bi kịch, vừa bướng bỉnh vừa mềm yếu vừa kiên định vừa dễ hoang mang

c/ Phân tích

*/Tính cách nổi bật nhất của Vũ Như Tô: là người nghệ sĩ tài ba, có nhân cách lớn có hoài bão lớn, hiện thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo cái đẹp.

_ Cái tài ba của Vũ được nói đến chủ yếu ở các hồi, lớp trước thông qua hành động của anh và nhất là lời của các nhân vật khác nói về anh: thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”. Nghệ sĩ ấy có thể “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. Anh “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công”.

_ Là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, nên mặc dự bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân và kiên quyết từ chối xây dựng Cửu Trùng Đài. Ông cũng không phải là người ham lợi (khi được vua ban thưởng vàng bạc lụa là, ông đem chia hết cho thợ).

*/ Lý tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính nhưng là lý tượng nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời, xa rời đời sống hiện thực của nhân dân lao động. Vì thế ông đã thất bại

Nhận xây Cửu Trùng Đài, Vũ không ngoài mục đích sáng tạo một công trình nghệ thuật để tô điểm cho đất nước. Nhưng vì quá say sưa với ước mơ xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện” mà Vũ Như Tô đã không nhận ra một thực tế tàn nhẫn : Cửu Trựng Đài xây bằng mồ hôi nước mắt và xương máu của nhân dân ! Ông không nghĩ việc mình xây Cửu Trùng Đài cho đất nước lại bị xem là tội ác. Đến khi cuộc nổi loạn đó nổ ra, Đan Thiền hốt hoảng báo nếu không trốn thì ông sẽ bị giết, nhưng ông vẫn không chịu đi vì vẫn tin vào động cơ và việc làm “chính đại quang minh”của mình, vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hòa Hầu, một trong những kẻ cầm đầu phe nổi loạn. Song, mọi việc không diễn ra như ảo tưởng của Vũ. Khi ông và Đan Thiền bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đập phá, thiêu hủy thì ông mới bừng tỉnh, xiết bao đau đớn kinh hoàng ngửa mặt lên trời mà kêu lớn : “ôi mộng lớn ! ôi Đan Thiền ! ôi Cửu Trựng Đài !”. Trong tiếng kêu ấy, mộng lớn , Đan Thiền, Cửu Trùng Đài dồn dập vang lên, hòa nhập vào nhau thành nỗi đau bi tráng. Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trựng Đài.    

→Và như thế nguồn gốc bi kịch của Vũ chính là ở chỗ :

Muốn thực hiện lý tưởng nghệ thuật thì lại rơi vào tình trạng đi ngược lại quyền lợi trực tiếp của nhân dân, nếu xuất phát từ lợi ích thiết thực của nhân dân thì không thể thực hiện ước mơ nghệ thuật muôn đời của mình. Người nghệ sĩ thiên tài đầy hoài bão và tâm huyết cũng không thể thi thố tài năng của mình để đem niềm tự hào cho dân tộc trong một chế độ xã hội thối nát, trong một đất nước mà nhân dân còn phải sống trong đói khổ lầm than

→ Nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ là vì :

_ Ông có hoài bão lớn nhưng xa rời cuộc sống của nhân dân

_ Mục đích, lý tưởng nghệ thuật của Vũ là chân chính nhưng con đường thực hiện lại sai lầm khi ông lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật.

_ Khi xây Cửu trùng đài, ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, trên lập trường cái Đẹp mà không đứng trên lập trường cái Thiện. Hành động của Vũ không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt. Vũ đã từng tranh tinh xảo với hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải- trái với số phận và với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào cuộc đua tranh này thể hiện qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô

Cho đến khi bi kịch hạ màn, người xem vẫn chưa thấy câu trả lời dứt khoát của tác giả: Vũ Như Tô có công hay có tội. Và sự băn khoăn ấy còn được thể hiện qua

 →lời đề tựa viết một năm sau khi vở kịch ra đời. Chính Nguyễn Huy Tưởng đã công khai bày tỏ nỗi băn khoăn của mình: “Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải ? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

Cách nêu vấn đề của tác giả như vậy là hợp lý. Bởi lẽ chân lý chỉ thuộc về Vũ Như Tô một nửa, còn nửa kia lại thuộc về quần chúng nhân dân. Vũ có hoài bão lớn nhưng xa rời cuộc sống của nhân dân. Mục đích, lý tưởng nghệ thuật của Vũ là chân chính nhưng con đường thực hiện lại sai lầm khi ông lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật. Còn về phía quần chúng nhân dân nổi dậy giết Lê Tương Dực là đúng, việc tạm hoãn xây Cửu Trùng Đài là đúng nhưng trong cơn nông nổi. giận dữ, có thể họ chưa hiểu hết Vũ Như Tô, chưa nghĩ đến công sức của chính mình bỏ ra cho công trình nghệ thuật có thể lưu lại cho con cháu muôn đời sau. Nên giết Vũ Như Tô là quá tay và việc phá hủy Cửu Trùng Đài là không nên. Mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô cũng chưa được giải quyết dứt khoát. Tác giả băn khoăn: không thể hi sinh lợi ích bức thiết của dân chúng nhưng vẫn mong có một công trình nghệ thuật như Cửu Trùng Đài.

Trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, việc mong muốn có được một Cửu Trùng Đài là không đúng. Nghệ thuật không thể đứng cao hơn cuộc sống, cao hơn cả sự sống còn của nhân dân. Khát vọng và động cơ của Vũ Như Tô là chính đáng, nhưng xây Cửu Trùng Đài là không nên vì lúc đó là chất thêm một gánh nặng cho dân chúng

III/ KẾT LUẬN

→Vũ Như Tô, hiện thân cho niềm khát khao và sự đa mê sáng tạo cái đẹp nhưng bướng bỉnh và có phần mù quáng, không dễ thích ứng với những diễn biến phức tạp của hiện thực cuộc sống

→Đây cũng là nhân vật có tính cách nổi bật, sinh động phức tạp, đa nghĩa, co sức khái quát cao và tầm tư tưởng lớn

Qua tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã đềcập đếngiá trị nhân văn sâu sắc rằng: “Không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần tuý, nó phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời. “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương”. Người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn dân”. Một vấn đề đặt ra nữa là “Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực”.

vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước sang thiên niên kỉ mới, nó vẫn còn nguyên giá trị.

VỀ NHÂN VẬT ĐAN THIỀM:

I/ MỞ BÀI :

Nguyễn Huy Tưởng là một nhà văn, nhà viết kịch tài năng. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước ở làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Ông tham gia cách mạng rất sớm, gia nhập tổ chức Văn hoá cứu quốc và sáng tác văn học phục vụ cách mạng. Ông đặc biệt thành công với đề tài lịch sử ở cả hai thể loại tiểu thuyết và kịch.

Tác phẩm tiêu biểu của ông như kịch : Bắc Sơn, Những người ở lại, Đêm hội Long Trì; tiểu thyết như An Tư, Sống mãi với thủ đô, Kí sự Cao – Lạng …Trong đó để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng đọc giả là vở kịch Vũ Như Tô

II/ THÂN BÀI :

(1/ Xuất xứ và tóm tắt tác phẩm)

*/ “Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử có qui mô hoành tráng xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng và của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Vở kịch lịch sử gồm 5 hồi, được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác vào năm 1941,viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517.Vũ Như Tô, Lê Tương Dực, Nguyễn Vũ, Trịnh Duy Sản, An Hòa Hầu, Nguyễn Hoằng Dụ… là những nhân vật lịch sử, những nguyên mẫu mà tác giả đã dựa vào “Đại Việt sử kí toàn thư” để sáng tạo nên

*/ Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe doạ kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ,  khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Tràng Đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước, “Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi, nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện…”. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng Đài. Nhưng Cửu Trùng Đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi.

Đoạn trích thuộc hồi 5 của vở kịch, cảnh diễn ra trong cung cấm. Việc xây dựng Cửu Trùng Đài đã khiến cho nhân dân vô cùng cực khổ. Trịnh Duy Sản đã lợi dụng tình hình dấy binh nổi loạn. Nhân dân, binh lính và thợ xây dựng Cửu Trùng Đài đã nổi dậy. Chúng bắt giết Vũ Như Tô, Đan Thiềm  và huỷ diệt Cửu Trùng Đài.

*/ Qua vở kịch này, (chủ đề) nhà văn đã nêu lên một vấn đề lịch sử – xã hội để mọi người cùng suy nghĩ. Đó là chức năng, vai trò của người nghệ sĩ, và mục đích của nghệ thuật. Người nghệ sĩ đem tài năng phục vụ ai? Mọi công trình nghệ thuật đều vì ai?

(2/ Ý nghĩa biểu tượng Cửu Trùng Đài)

Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công trình kiến trúc mà tầm vóc độc nhất vô nhị vượt xa tất cả những kỳ quan từng được người đời truyền tụng

Với Vũ Như Tô và Đan Thiềm: Cửu Trùng Đài là công trình kiến trúc trong mơ ước, là giấc mơ sáng tạo lớn lao, cao cả, đẹp đẽ của người nghệ sĩ muốn tạo ra “chốn bồng lai tiên cảnh giữa cõi trần lao lực”, tô điểm cho non sông, đất nước. Tầm vóc tòa lâu đài ấy không thể tính bằng gỗ cây, đá khối mà phải đo bằng ý chí ngạo nghễ của nghệ sĩ thiên tài. Cửu Trùng Đài là biểu tượng của cái đẹp siêu đẳng mà người nghệ sỹ muốn thi thố tài năng cùng trời đất. (0,5đ)

– Với nhà vua và triều đình: Cửu Trùng Đài là biểu tượng cho quyền lực và sự xa hoa, thối nát của giai cấp thống trị đương thời. Vua cho xây tòa lâu đài nguy nga đồ sộ, tốn kém biết bao ngân khố của quốc gia và công sức của nhân dân lao động nhưng chỉ để vua ăn chơi, hưởng lạc, thỏa mãn thói hoang dâm không giới hạn của một cá nhân. 

Với quần chúng nhân dân: Tòa lâu đài ấy được xây bằng tiền của đất nước, bằng xương máu và tính mạng của những người thợ xây đài. Đó là biểu tượng của món nợ xương máu,  lòng hờn căm chất chồng của nhân dân với giai cấp thống trị đương thời

– Với chính nó: Cửu Trùng Đài trong giấc mộng của người nghệ sĩ sáng tạo Vũ Như Tô muốn xây một công trình nghệ thuật “bền vững như trăng sao”, trường tồn, bất diệt để tô điểm cho non sông, đất nước. Nghĩa là nó là cái đẹp gắn với cái thiện nhưng trên thực tế, nó là một bông hoa ác “Vạn niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân”(ca dao). Nó chỉ tồn tại ngắn ngủi như một giấc mơ đẫm máu và nước mắt của người nghệ sĩ sáng tạo và của quần chúng lao động. 

(3/ Những mâu thuẫn cơ bản trong vở kịch ) Chuyện xây đài cửu trùng xoay quanh  

–  xung đột giữa thợ thuyền, nhân dân lầm than với Vũ Như Tô và tập đoàn phong kiến Lê Tương Dực.

– Và còn là xung đột giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu,thuần túy (xây đài Cửu Trùng dựng kỳ công muôn thuở,sánh với trăng sao) và lợi ích trực tiếp,thiết thực của nhân dân.

→(Ý nghĩa của xung đột) :Từ những xung đột trên nhà văn đã

–        Phản ánh sinh động nỗi khổ cực của nhân dân lao động cần lao dưới thời hôn quân Lê Tương Dực. Đó là tập đoàn ăn chơi,sa đọa,bóc lột nhân dân đến tận xương tủy.

– Thể hiện tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Vũ Như Tô,vì quá đam mê thi thố tài năng mà trở thành nỗi oán giận của bao người. Đến chết vẫn chưa tỉnh giấc mộng.

– Từ đó tác giả đặt ra vấn đề muôn thuở: mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống  NGHỆ THUẬT PHẢI VỊ NHÂN SINH thì nghệ thuật mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ,nâng niu,bảo vệ.

(4/ Nhân vật Đan Thiềm )

_ Nếu Vũ Như Tô là người nghệ sĩ đa mê sáng tạo cái đẹp thi Đan Thiền là người đa mê câi tài, ở đây là tài sáng tạo ra cái đẹp. “Bệnh Đan Thiền” theo quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng, chính là “bệnh” mê đắm tài hoa siêu việt của người sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo ra cái đẹp. Vì có tấm lòng liên tài nên lúc Vũ Như Tô mới bị bắt, ông nhờ Đan Thiềm “mách đường chạy trốn, nàng đã khuyên ông ở lại, thuyết phục ông nhân cơ hội này, mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện được hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật đồ sộ, vĩnh cửu.

_Vì đa mê tài năng mà Đan Thiền luôn khích lệ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trựng Đài, sẵn sàng quyên mình để bảo vệ cái tài cái đẹp ấy nhưng lại luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp.

_ Nhưng nếu Vũ Như Tô đa mê sáng tạo cái đẹp đến mức không hề chú ý, không hề biết đến hoàn cảnh vây quanh mình, thì Đan Thiền lại luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp. Biết ước vọng xây đài lớn không thành, tâm trí nàng giờ đây chỉ còn tập trung vào việc bảo vệ an toàn tính mạng cho Vũ Như Tô. Đan Thiền khẩn khoản khuyên Vũ Như Tụ đi trốn, năm lần bảy lượt thúc giục ông “trốn đi”, “lánh đi”, “chạy đi”, chắp tay lạy, van xin : “ông nghe tôi ! ông phải trốn đi mới được !”nhưng không làm sao cho ông tỉnh ngộ; Vũ Như Tô vẫn bướng bỉnh chống lại số phận. Đến khi quân nổi loạn kéo vào, gươm giáo sáng lóe, biết Vũ Như Tô “có trốn cũng không được nữa”, thì nàng đã khóc. Nàng nói với Ngô Hoạch, sẵn sàng đổi mạng sống của mình để cứu Vũ Như Tô : “Tướng quân nghe tôi. Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. ông ấy là một là một người tài…”Biết không sao cứu nổi Vũ Như Tô, Đan Thiền đau đớn buông lời vĩnh biệt : ông Cả ! Đài lớn tan tành ! ông Cả ơi ! Xin cùng ông vĩnh biệt !” (mà không nói: “Vĩnh biệt ông Cả!”). Đó cũng là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu trùng đài, vĩnh biệt một “giấc mộng lớn” trong máu và nước mắt.

Với nét tính cách như vậy, Đan Thiền xứng đáng là tri âm tri kỉ của Vũ Như Tô.

III/ KẾT LUẬN

Tóm lại ,Đan Thiền là người mềm mại, uyển chyển, dễ thích ứng với hoàn cảnh. Nàng luôn mang trong lòng nhiều nỗi ưu tư, nỗi đau lớn, khổ lụy vì tài

Nhưng cũng như Vũ Như Tô, Đan Thiềm vừa đáng khen vừa đáng trách. Đáng khen bởi họ là những người nghệ sĩ biết tôn trọng tài năng và yêu nghệ thuật. Họ là những người có khát vọng cao quý, đó là xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật lớn. Nhưng họ cũng đáng trách bởi vì khi quan tâm đến nghệ thuật họ đã quên trách nhiệm đối với nhân dân. Nghệ thuật là kết quả của lao động nghệ thuật nhưng nghệ thuật không thể là nguyên nhân của lầm than, không thể được xây dựng bởi máu và nước mắt của người lao động

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: