Phía trước là chân trời

Xuất dương lưu biệt Phan Bội Châu

Posted by thaidung1611 on 18/12/2014

A/ Mở bài 

: PBC là lãnh tụ của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ, là cái tên đẹp nhất một thời. Sự nghiệp cứu nước của ông không thành nhưng tấm lòng yêu nước của ông còn mãi với muôn đời. Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc từng suy tôn ông là “bậc anh hùng vị thiên sứ được 25 triệu đồng bào tôn kính.

Sinh ra giữa cuộc đời, ông không hề nghĩ mình là nhà văn. Nhưng thực tế trên bước đường hoạt động cách mạng, ông đã trở thành nhà văn lớn của dân tộc. Tên tuổi củaông gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế, vài ba vở tuồng chan chứa tình yêu nước. Đúng như lời thơ của Tố Hữu “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng”.Thơ văn của ông là thành tựu rực rỡ nhất của thể loại văn chương tuyên truyền cổ động.

B/ Thân bài

I/ Hoàn cảnh sáng tác

1905, đất nước vẫn còn tăm tối nhưng phong trào cách mạng đã bắt đầu hé lên. Theo chủ trương của Duy Tân hôi do chính ông sáng lập, ông bắt đầu sang Nhật để tìm đường cứu nước. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” ông làm tặng các đồng chí trong buổi đầu lên đường.

II/ Phân tích :

1/ Hai câu đề  :      Làm trai phải lạ ở trên đời

                                Há để càn khôn tự chuyển dời

ở hai câu đề tác giả nêu nên vấn đề            

*/Chí làm trai.

–  Chí làm trai vốn là quan niệm nhân sinh thời phong kiến.

Làm trai phải tề gia trị quốc bình thiên hạ, tức là phải nên công dánh sự nghiệp, phải để lại tiếng thơm cho đời, phải thoả chí tang bồng …

Quan niệm đó ít nhiều có liên quan đến tư tưởng nam tôn nữ ti. Bên cạnh mặt tiêu cực, nó cũng có mặt tích cực. Chính trong cái tích cực, cái hùng khí của lý tưởng nhân sinh ấy đã giúp không ít người làm nên sự nghiệp hiển hách : Với Phạm Ngũ Lão “Công danh nam tử còn vương nợ”; Với Nguyễn Công Trứ “Chí làm trai nam bắc tây đông, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển”.

Còn với Phan Bội Châu, Ông nghĩ đến chí làm trai trong sự nghiệp cứu nước với một cảm hứng, một ý tưởng thật lớn lao mãnh liệt:

  • Phải lạ ở trên đời

Làm trai phải lạ ở trên đời có nghĩa là phải làm một việc gì đó khác lạ lớn lao cho cuộc đời, không sống tầm thường thụ động. Nói cách khác làm trai trong điều kiện hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ thì cái “lạ ở trên đời” chỉ có thể là xoay trời chuyển đất, làm một cái gì đó lớn lao cho dân cho nước, chứ không phải chỉ lấy vợ đẻ con rồi cuối cùng đắm chìm trong cánh tay của vợ (mà sau này Chế Lan Viên đã nói “Lũ chúng ta ngủ… xuống tâm hồn”.

Trong hai câu đề, bên cạnh chí làm trai, tác giả còn xác định

*/ Tư thế của con người trước vũ trụ :

  • Há để càn khôn tự chuyển dời

Càn khôn là đất trời. Há để trời đất tự xoay chuyển. Không ! Tự mình phải chủ động tham gia vào quá trình chuyển xoay đó, chứ không thể ngồi chờ đợi một cách thụ động vô vị và nhạt nhẽo.

è Câu thơ mang dáng dấp một câu hỏi, hỏi nhưng hàm ý khẳng định vai trò chủ độn của con người trước vũ trụ.

 Như vậy , từ quan niệm về chí làm trai, Phan Bội Châu đã thể hiệnè một tư thế, một tâm hồn rất đẹp của chí làm trai.

Có thể nói cảm hứng và ý chí của Phan Bội Châu thật táo bạo và tràn đầy hùng tâm tráng khí. ở vào hoàn cảnh nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX, khi phong trào Cần vương cuối cùng đã thất bại, khi con đuờng cứu nước còn đang đen tôi, thì việc thức tỉnh chí làm trai, xác định rõ vai trò của con người đối với non sông của nhà chí sĩ yêu nước là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trọng đại. Hai câu đề ngắn gọn nêu bật được tư thế có tính chất vũ trụ của người thanh niên yêu nước có chí hướng, có bản lĩnh.

2/ Hai câu thực  :

          Trong khoảng trăm năm cần có tớ

          Sau này muôn thuở há không ai.

Từ chí làm trai, Phan Bội Châu đặt ra vấn đề

*/ vai trò  của cái tôi .

“Trong khoảng trăm năm cần có tớ”,

– “Ngã” nghĩa là “ta” mà bản dịch dịch là “tớ”.

Ta (hay “tớ”.) ở đây không ai khác chính là nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Trong khoảng trăm năm của cuộc đời con người, ta sẵn sàng gánh vác trách nhiệm đối với non sông đất nước. Đây không phải là sự vỗ ngực khoa trương để hưởng thụ mà câu thơ khẳng định niềm tự hào, ý thức trách nhiệm lớn lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan.

Nói cách khác, câu thơ là èsự ý thức rõ ràng về cái tôi cống hiến, cái tôi trách nhiệm lớn lao đáng kính trước lịch sử và xã hội.

ý tưởng đẹp đẽ này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các bậc vĩ nhân trong lịch sử “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”(Trần Quốc Tuấn), “Trời thử lòng trao cho mệnh lớn, ta gắng chí khắc phục gian nan”(Nguyễn Trãi).

Trong mối quan hệ giữa chí làm trai và ý thức về cái tôi, câu tiếp theo, Phan Bội Châu đưa ra

*/ Quan niệm mới về chữ danh (vinh)

Sau này muôn thuở há không ai ?

câu thơ trên hiểu

 Chẳng nhẽ sau này lại không có ai dám xả thân gánh vác trách nhiệm đối với đất nước ? Điều đó là không thể có ở một dân tộc mà lịch sử dụng nước luôn gắn liền với giữ nước, luôn đề cao chí làm trai, chí nam nhi. Vậy trong khoảng trăm năm của cuộc đời ta, ta hãy cứ xả thân , gánh vác trách nhiệm đối với giang sơn đất nước đi. Nhất định sau này (nghìn năm sau) sẽ có người kế tục sự nghiệp vẻ vang của ta.

Nhưng ta cũng có thể hiểu theo một ý khác : Chẳng lẽ sau này không ai còn nhớ đến những người đã dám xả thân vì nước. Điều đó là vô lý, không đúng với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Những tấm gương đó mãi mãi là được líc sử ghi nhận. Vậy còn đợi gì nữa mà không xả thân vì nước để được lưu danh thiên cổ.

Dù hiểu theo cách nào, chúng ta cũng thấy: èCâu thơ như một câu hỏi, hỏi mình, hỏi người, hỏi thời đại. Hỏi đấy nhưng cũng giục giã đấy. Giục giã mọi người hãy xả thân vì nước để được lưu danh thiên cổ.

 Nên bản chất chữ danh mà Phan Bội Châu đưa ra không phải chữ danh lợi tầm thường mà nó là èchữ danh gắn với lợi ích của giống nòi.

Hai câu 3-4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định, lấy cái hữu hạn(bách niên –1 cuộc đời) đối với cái vô hạn( thiên tải của lịch sử của dân tộc). Phan Bội Châu đã tạo ra một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, biểu lộ một quyết tâm và khát vọng trong buổi đầu lên đường.

Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được ý thức về cái tôi về sự lưu danh thiên cổ bằng sự nghiệp cứu nước quả là cao cả vô cùng.

3/ Hai câu luận  :

                  Non sông đã chết sống thêm nhục

                  Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

Đưa ra vấn đề lưu danh thiên cổ, tức là Phan Bội Châu đã đưa ra quan niện về cái vinh. Vậy ông có suy nghĩ như thế nào về nỗi nhục ?

*/ Suy nghĩ về nỗi nhục

Đối với Phan Bội Châu, lưu danh thiên cổ bằng sự xả thân vì nước thì nỗi nhục đối với ông là nỗi nhục mất nước

  • Non sông đã chết sống thêm nhục.

Non sông đã chết tức là non sông đã bị giặc ngoại bang xâm chiếm, giày xéo. Thân phận dân ta lúc đó cũng chỉ như kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Sống mà như đã chết.

èĐó là nỗi vinh nhục gắn với vận mệnh đất nước, mang ý nghĩa lớn lao.

Quả thực suốt cuộc đời mình, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình và rồi cả những người cộng sản sau này đã sống và chết theo quan niệm như vậy.

Sang câu thơ tiếp theo :

_ Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

Phan Bội Châu đã nêu nên thái độ đối với nền học vấn cũ trước vận mệnh đất nước lầm than.

– Hiền thánh : chỉ sách vở của thánh hiền. Tức là sách vở chỉ dẫn dăn dạy những điều hay lẽ phải(thậm chí cả thuật trị nước) theo lý tưởng phong kiến.

 Còn giờ đây, trong cảnh nước mất nhà tan, có sôi kinh nấu sử, có chúi đầu vào con đường khoa cử hỏi cũng có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà. Sách vở thánh hiền lúc này đâu còn là kim chỉ nam nên Phan Bội Châu mới nói

– Học cũng hoài nghĩa là : học cũng chẳng giúp được gì . Và như thế Phan Bội Châu đã nêu nênè ý định từ bỏ sách vở, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, muốn tề gia trị quốc bình thiên hạ thì phải gắn với cửa khổng sân trình, đỗ đạt làm quan. Nên mới có một Tú Xương tron đời cắp sách đi thi mong đỗ ông nghè ông cống giúp dân giúp đời. Phan Bội Châu cũng là người của cửa khổng sân trình mà lại có ý tưởng từ bỏ sách vở thì quả là một ý tưởng mới mẻ có ý nghĩa tiên phong đối với thời đại.Có được ý tưởng đó là nhơ tinh thần dân tộc cao độ, nhờ ở nhiệt huyết cứu nước và cả luồng ánh sáng mới về ý thức hệ mà Phan Bội Châu đón nhận qua phong trào tâm thư đầu thế kỷ.

4/ Hai câu kết

Hai câu kết là hệ quả tất yếu nảy sinh từ quan niệm trên, ý nghĩ trên. Bài thơ kết lại trong tư thế hăm hở sôi trào của buổi đầu lên đường xuất dương cứu nước.

Nguyên văn chữ Hán là:

 Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

                                          

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Thơ dịch dù hay cũng có phần hao hụt.

*/Câu 7 dịch là :Muốn vượt biển Đông theo cánh gió” là sát nghiã . Nhưng sang */câu 8 “ muôn lớp sóng bạc cùng một lúc bay lên”.Đó là hình ảnh thơ kỳ vĩ lãng mạn, đầy phấn kích. Nhưng người dịch dịch là “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”, thì quả là đã èđánh mất cái tư thế trào lên, dâng lên, chỉ còn lại cái không khí êm ả của buổi lên đường. Điều đó è không phù hợp với không khí chung của toàn bài.

C/ Kết luận

Bài thơ thể hiện vẻ đẹp trong tư thế, trong ý nghĩ, trong nhiệt tình và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của tác giả – nhà cách mạng lớn.

Bài thơ chỉ có 56 chữ mà chứa đựng một nội dung tư tưởng vừa phong phú, vừa lớn lao : Có chí làm trai, có khát vọng xoay trời chuyển vũ trụ, có hoài bão lưu danh thiên cổ, có quan niệm vinh nhục ở đời, có thái độmới mể và táo bạo về sách vở của thánh hiền, có tư thế ra đi cứu nước. Tất cả thể hiện một nhiệt tình cứu nước sôi sục tuôn trào.

Nói đến thơ hay là phải nói đên giọng điệu riêng. “Xuất dương lưu biệt” có cái giọng điệu riêng đó, chính là giọng điệu tâm huyết tuôn trào

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: