Phía trước là chân trời

Văn tế NSCG

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

 Nguyễn Đình Chiểu

A/ Tểu dẫn

B/ Văn bản

I/ Xuất xứ đại ý

II/ Đọc – Hiểu :

1/ Lung khởi (1-2)

Mở đầu bài văn, tác giả đã

a/ Dựng lên khung cảnh bão táp của thời đại

                          Súng giặc đất rền

                          Lòng dân trời tỏ

Hai câu tứ tự cô đọng hàm xúc đã khái quát đầy đủ hai mặt của biến cố chính trị lớn lao : Một bên là cuộc xâm lăng ào át của kẻ thù với những vũ khi tối tân, một bên là vai trò ý chí chống xâm lược của nhân dân khi thời bình vốn tiềm ẩn lặng lẽ, nay hiện lên sáng ngời rực rỡ. Hai mặt đó trong thực tế lịch sử đã xung đột mãnh liệt, chi phối toàn bộ thời cuộc. Cho nên không phải ngẫu nhiên tác giả sử dụng những yếu tố đối lập : 

Đất > < Trời       Rền > < Tỏ         Súng giặc > < Lòng dân

è Những yếu tố không gian rộng lớn, những hình ảnh đối lập kết hợp với những động từ mạnh (rền, tỏ), Nguyễn Đình Chiểu đã nêu bật tính chất nghiêm trọng quyết liệt của tình thế.

Và cũng bằng cách đối chọi súng giặc với lòng dân, sức mạnh vật chất với sức mạnh tinh thần,

è Tác giả còn bộc lộ một quan điểm nhìn nhận thời cuộc khá sâu sắc và tiến bộ.

Tiếp theo, Nguyễn Đình Chiểu

b/ Giới thiệu khái quát về người nông dân trong lao động sản xuất:

_  Mười năm công vỡ ruộng (thời gian dài)  ><   Một trận)

_ Còn – Danh nổi như phao (nhẹ, bề mặt     ><_ Mất – Tiếng

                                                                       vang như                 

                                                                   mõ (rất quan                                        


trọng trong đời sống làng quê xưa,                                                                   mỏng chưa đủ sức lắng sâu vào tâm hồn                        thường bay xa, lắng đọng

   èVới thủ pháp đối lập về thời gian và kết quả, Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi và khẳng định cái tốt đẹp hơn hẳn của những con người vì nghĩa, đồng thời phản ánh chân thực sự chuyển biến đột xuất, sức vùng lên mau lẹ của những người nông dân yêu nước như cái vươn vai thần kì của Thánh Gióng

 Hai câu lung khởi ngăn gọn đã làm đủ chức năng của nó : Một mặt khái quát được bối cảnh lịch sử vời hình tượng trung tâm của thời đại, một mặt nêu rõ được chủ đề tư tưởng của tác phẩm đó là thái độ ca ngợi cái chết vẻ vang tinh thần bất diệt của những người nông dân yêu nước đã hi sinh trong trận Cần Giuộc                                        

2/ Thích thực

Trong phần này , bằng bút pháp sinh động, tác giả tập trung mô tả hình tượng người nghĩa quân trong cả quá trình đi từ cuộc đời lao động âm thầm khổ cực đến cuộc đời chiến đấu anh dũng vẻ vang.

Mở đầu đoạn văn cũng là hai câu tứ tự

a/ Giới thiệu nguồn gốc của người nghĩa sĩ :

                                      Côi cút làm ăn

                                  Toan lo nghèo khó

Chỉ 8 chữ thôi nhưng

è Nguyễn Đình Chiểu đã nêu được hai nét hiện thực cơ bản theo nhau như bóng với  trong đời sống của người nông dân xưa : Quanh năm vất vả mà suốt đời nghèo khó lo toan

Và cũng chỉ 8 chữ ấy thôi nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã chứa đựng trong đó bao nhiêu kiếp sống nặng nề và cả

è Tấm lòng bùi ngùi thương mến vô hạn của tác giả.

Chuyển sang những câu sau(4-9), tác giả không dùng cách khái quát cô đọng như trên mà bằng những chi tiết cụ thể mộc mạc nhưng rất chọn lọc, tiêu biểu, Nguyễn Đình Chiểu đã giới thiệu :

b/ Quá trình người nông dân tự giác đứng lên vì nghĩa

*/ Lúc đầu :

_ Họ vốn xa lạ với việc binh đao

Sự xa lạ này bắt nguồn từ nếp sống sinh hoạt và lao động :

                     Chưa quen  > < Chỉ biết

                Vốn quen làm > < Chưa từng ngó

 Với những chi tiết chân thực, cách đối ý chặt chẽ của văn biền ngẫu, đặc biệt là cách dùng từ tình thái có sự tương phản mạnh mẽ, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu bật bản chất của hoà bình trong cuộc sống lao động của người nông dân.

Chính vì họ hoàn toàn xa lạ với binh đao trận mạc nên

_ Khi chiến sự xảy ra, họ đã phải trải qua một tâm trạng lo âu hồi hộp kéo dài :

+ Phập phông hơn mười tháng è Tâm trạng lo âu hồi hộp kéo dài chứ không phải khiếp sợ

+ Trông tin quan như trời hạn trông mưa è So sánh điễn tả cụ thể sinh động tâm trạng bồn chồn chờ đợi

Dĩ nhiên không thể coi đó là thái độ tiêu cực trước nguy cơ của đất nước, vì thời này trách nhiệm lãnh đạo toàn dân thuộc về sứ mệnh của giai cấp thống trị phong kiến. Nhưng thực tế càng chứng tỏ vài trò bất lực ươn hèn và thái độ vô trách nhiệm của giai cấp thống trị đương thời mà tiêu biểu là triều đình nhà Nguyễn.

*/ Sau này

Yêu nước và căm thù giặc, họ đã phải uổng công chờ đợi trong khi ách ngoại xâm cùng biết bao tội ác của nó ngày càng đề nặng lên cuộc sống như một thứ tinh chiên như thói mọi , chứa chất bao căm ghét trong lòng người dân lương thiện. Nên :

_ Đối với giặc

+ Họ Căm ghét

 Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ è Biện pháp so sánh diễn tả được cụ thể và sâu sắc nét tâm lý vốn trừu tượng.

Và sự căm ghét của họ được nâng lên thành một thái độ

+ Căm thù mãnh liệt sẵn sàng bùng nổ ra thành hành động :

  Bồng bong trôi trắng lốp _ Muốn tới ăn gan

   ống khói chạy đen xì _ Muốn tới cắn cổ

Người nông dân hiền lành trầm tính đến đây đã có một bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng : Không thể thụ động mong chờ triều đình mà phải kiên quyết tự mình đứng lên giết giặc cứu nước. Đễ diễn tả được rạch ròi tự nhiên chân thực sự đột biến đó,

è Tác giả đã dùng những màu sắc kích động tạo nên những phản ứng tâm lí tự nhiên và quyết liệt

Càng căm thù, người nông dân càng khát khao được chiến đấu bởi yêu nước và căm thù giặc là hai mặt thống nhất của tình cảm. Họ mong ước và khát khao được đánh giặc với một tấm lòng yêu nước nồng nàn, một ý thức trách nhiệm bảo vệ giang sơn Tổ Quốc

_ Đối với Tổ Quốc

+ Một mối xa thư đồ sộ – Vầng nhật nguyệt chói loà è Hình ảnh kì vĩ để nói ý nghĩa cao quí  vĩ đại                                                                                     

 +   Há để – Đâu dung è Những hư từ làm cho câu văn tăng thêm phần trang trọng như một lời tuyên ngôn chính trị

So với các giai đoạn văn học trước, trong đó con người mới ý thức về cá nhân, nhưng đến đây

è con người đã có ý thức về nghĩa vụ trực tiếp đối với đất nước, dân tộc. Như thế phải xem đó là một bước phát triển và càng có giá trị hơn khi xuất hiện đầu tiên ở hình tượng người nông dân đánh giặc. Rõ ràng trong quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu,è người nông dân đứng lên đánh giặc cứu nước với đầy đủ sự giác ngộ cần thiết mà thời đại cho phép.

_ Đối với chiến tranh

Xuất phát từ sự giác ngộ trên, tư thế của họ bước vào chiến đấu là

+ Tư thế hiên ngang hăm hở tự tin                                                                                      

         Nào ai đòi ai bắt – Xin ra sức

 Chẳng thèm trốn ngược trôn xuôi – Quyết ra tay

Điều đáng chú ý ở đậy là thái độ của người nông dân đối với chiến tranh đã hoàn toàn thay đổi. Nếu trước kia trong chiến tranh của chúa, họ tìm mọi cách để lẩn trốn, có người thay cả họ tên quê quán thì bây giờ họ lại hăng hái tham gia chiến đấu. Tình hình đó có nguyên nhân khách quan là tính chất của cuộc chiến tranh đã khác trước. Nhưng xét về mặt chủ quan

          è Họ có ý thức phân biệt chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa

Chán ghét chiến tranh phi nghĩa bao nhiêu họ tự giác xông vào chiến tranh chính nghĩa bấy nhiêu. Câu văn giản dị nhưng hàm chứa một chân lí lớn : Lịch sử đã chứng minh thời nào cũng vậy, bọn hiếu chiến khát máu không ai khác chính là giai cấp thống trị bóc lốt, còn quần chúng lao động chỉ cầm vũ khi trong trường hợp vạn bất đắc dĩ :    Đạp quân thù xuống đất đen

                                      Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

Người nông dân ở đậy cũng vậy, có điều khi họ nổi dậy đứng lên thì kẻ thù không tránh khỏi những đòn sấm sét.

c/ Điều kiện chiến đấu

Vốn suốt đời nghèo khó nên họ xuất hiện ở chiến trường với đủ thứ thiếu thốn mà dường như đó là cái duyên nợ truyền kiếp

_ Mười tám ban võ nghệ – Nào đợi

  Chún chục trận binh thư _ không chờ       è Thiếu rèn luyện võ nghệ binh thư

_ Chẳng phải quân cơ quân vệ

   Chẳng qua là dan ấp dân lân          èThiếu tập tành tối thiểu

_Nào đợi mang bao tấu bầu ngòi

  Chi nài sắm dao tu non gõ             èThiếu trang bị tối thiểu     

Có thể nói

  èHọ bước vào cuộc chiến đấu với tất cả sự nghèo khó trên lưng

Hình ảnh của họ dường như chưa phải là hình ảnh người chiến binh hoặc như người ta thường nói người nông dân mặc áo lính. Mà vẫn là bóng dáng quen thuộc của họ trong gia đình ngoài đồng ruộng với những dụng cụ thô sơ sẵn có.

     Một manh áo vải _  Một ngọn tầm vông _   Một lưỡi dao phay _    Một rơm con cúi                                                

Họ bước vào cuộc chiến đấu với những gì hôm qua còn dùng trong sinh hoạt gia đình, trong sản xuất. Nhưng Nguyễn Đình Chiểu nêu ra tình cảnh này không phải vớp một thái độ tủi cực mà với niềm tự hào sâu sắc phản ánh đúng

è Tinh thần hăng hái bất chấp khó khăn thiếu thốn của Nghĩa quân trong chiến đấu ( thông qua một loạt từ phủ định : Nào đợi, không chờ, chi nài …)

d/ Tinh thần chiến đấu

Vượt qua mọi gian nguy với tình cảm mến nghĩa cùng với khí thế hăng hái tự hào, người nông dân Cần Giuộc đã xông lên như vũ bão

_ Đạp rào lướt tới _   Xô xửa xông vào

   Kẻ đâm ngang _ Người chém ngược

Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu đến đây như bay nhảy như vô cùng sảng khoái

è Hàng loạt động từ mạnh tràn đầy sinh lực và dũng khí, những âm thanh náo đông, nhịp điêu câu văn dồn dập sôi nổi đã lột tả được tinh thần anh dũng, khí thế vũ bão của nghĩa quân

Tất nhiên trong cuộc giao chiến quá chênh lệch về nhiều phương diện, nghĩa quân không thể tránh khỏi tổn thất hi sinh. Nhưng họ đã nêu tấm gương anh dũng tuyệt vời và đã viết lên những trang sử chống Pháp đầu tiên của dân tộc bằng ý thức tự giác bằng máu thắm của mình. Họ đã làm sáng tỏ chân lí về khả năng chiến thắng của con người với vũ khí tối tân, sức mạnh của chiến tranh nhân dân…

Nhìn chung ở phần thích thực này Nguyễn Đình Chiểu đã không dùng đến một hình thức mĩ từ pháp nào mà chỉ là những chi tiết thực tinh ròng chất sống cùng với ngôn ngữ giản dị giàu chất dân gian, lối kết cấu tự nhiên hợp lí dựng lên hình ảnh quen thuộc nhưng thật đột xuất, giàu chất anh hùng ca của người nông dân Cần Giuộc. Đó cũng là hình tượng nông dân chân thực nhất, đặc sắc nhất trong văn học cổ điển mà bao nhiêu năm sau chưa cây bút nào vượt qua.

3/ Ai vãn và kết

Phần này thường được bộc lộ tình cảm của người sống đối với người đã khuất. Đây là tình cảm của nhân dân của tác giả đối với các nghĩa sĩ

a/ Điểm khởi phát sự diễn biến tình cảm là cảnh ngộ oé le

      Những lăm lòng nghĩa lâu dùng _ vội bỏ

Tấm lòng vị nghĩa lớn lao đáng lẽ phải được phục vụ lâu dài cho đất nước như ý nguyện chung. Nhưng sinh mệnh con người lại kết thúc một cách bất ngờ ngắn ngủi

         è Thực tế phũ phàng đã gậy nên xúc động mạnh

Tình cảm càng trở nên mãnh liệt hơn bởi đây không phải là sự xúc động, nỗi đau của một tâm hồn bình thường trước cái chết thông thường mà là

       è sự xúc động, nỗi đau của một con người nặng lòng yêu nước trước cái chết cao cả của những anh hùng cứu nước.

Tình cảm bao trùm phần ai vãn là

b/ Diễn biến tình cảm

*/ Mối tiếc thương các liệt sĩ

Như trên đã nói, mối tiếc thương các liệt sĩ được nảy sinh từ cảnh ngộ éo le : cuộc đời chiến đấu của các nghĩa sĩ chưa thoả chi bình sinh mà cái chết đã phũ phàng ập đến. Cho nên

_ Mất họ nhân dân ngậm ngùi thương tiếc :        

             Già trẻ hai hàng luỵ nhỏ

_ Những cảnh vật vô tri vô giác cũng cảm kích khóc thương trước tấm lòng trung nghĩa của họ :       

 Sông Cần Giuộc – chợ Trường Bình – cỏ cây mấy dặm sầu giăng

_ Mất họ gia đình đau khổ bơ vơ, nạn dân ách nước thêm rối bời :

         Mẹ già ngồi khóc trẻ – Ngọn đèn khuya leo lét trong lều

Vợ yếu chạy tìm chồng – bóng xế dật dờ trước gió

è Cách tạo hình tạo cảnh có sức gợi cảm tối đa

Trong giọt nước mắt của bà mẹ già bên ngọn đèn khuya, trong bước chân bơ vơ của người vợ yếu dưới bóng xế chiều. Từ âm thanh sầu thảm vang lên qua đoạn văn ta không phân biệt được đâu là tiếng khóc của tác giả của nhân dân của gia đình mà ta như nghe thấy

è Tiếng khóc chung của đất nước.

Tình cảm lớn thứ hai bao trùm phần này còn là

*/ Lòng cảm phục trước cái chết vẻ vang của các nghĩa sĩ

_ Đề cao cái chết vẻ vang

Thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh

è Đó là cái chết tròn nợ nước được nhân dân ca ngợi.

Và hình ảnh tập trung nhất thể hiện sự cả ngợi đó là 

    Ôi một trận khói tan ngàn năm tiết rỡ

Rồi thời gian qua đi, mọi dữ dằn của cuộc chiến không thể còn lưu lại một cách đầy đủ qua không gian và thời gian. Nhưng cái còn lại mà ngàn năm sau không phai mờ là tiếng thơm của những người trung nghĩa, nó sẽ sống mãi trong lòng thương mến cảm phục của nhân dân qua các thế hệ.

Cùng với việc đề cao cái chết vẻ vang của người nghĩa sĩ, tác giả không tiếc lời

*/ Mạt sát cách sống nô lệ

           Sống làm chi theo quân tà đạo

           Chia rượu lạt gặm bánh mì nghe càng thêm hổ

è Những chi tiết hình ảnh chọn lọc chân thực cùng với cách dùng từ chính xác, tác giả đã biểu thị thái độ châm biếm sâu cay về cách sống nô lệ

Sống đấy nhưng không đáng được gọi là sống. Bời sống mà phải lìa bỏ tín ngưỡng của cha ông, chịu điều sỉ nhục về tinh thần, phải ăn uống đê tiện như một con vật, chịu nỗi cơ cực về vật chất đâu gọi là sống.

Mạnh hơn nữa tác giả còn

_ Phủ định hoàn toàn cách sống nhục nhã

        Thác mà đặng câu địch khai… đầu tậy

           è Lối so sánh quyết liệt khẳng định chết vinh còn hơn sống nhục

Trong tình hình đất nước rối ren tư tưởng cầu an đớn hèn đang trỗi dậy vào hùa với bạo lực phi nghĩa của kẻ thù thì thái độ kiên quyết này có ý nghĩa chiến đấu trực tiếp, quyết liệt

èÔng đã xây dựng quan điểm mấu chốt trong nhân sinh quan thời đại đó là thái độ của con người trước cái sống và cái chết trong cơn bão táp của chiến tranh vệ quốc.

Cảm phục trước cái chết vẻ vang tà càng thấm thía nỗi đau mất mát càng căm giận kẻ thù. Dường như người chết được tái sinh cũng không sao nguôi được

            Sống đánh giặc- thác cũng đánh giặc

            Linh hồn theo giúp cơ binh..

Linh hồn nghĩa sĩ trong tưởng niệm thành kính của tác giả vẫn níu lấy cuộc sống để đeo đuổi đến cùng sự nghiệp đánh giặc cứu nước. Những con người đó không chết vì theo nghĩa nhân sinh cao cả họ vẫn trường tồn trong lòng những người đang tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của họ. Kết thúc bài văn tế, Nguyễn Đình Chiểu

_Trở về tâm trạng của người dân đang sống để nói nên mối cảm thương sâu sắc trong lòng mình cũng như trong lòng nhân dân

                 Nước mắt anh hùng _ vương thổ

èý thức trung quân cũng không ảnh hưởng nhiều đến tình cảm thống thiết của tác giả

III/ Đại ý  Bài văn tế bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn đối với những người nông dân nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đề cao gương chiến đấu anh dũng của họ để động viên lòng yêu nước căm thù giặc, ý chí chống xâm lăng của nhân dân ta thời đó

 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

A11 VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘCMời bạm tham khảo giáo án WORD1

WORD2

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: