Phía trước là chân trời

Tự luận 10

Đề 1 : Cảm nhận của em về bài ca dao sau : Word : Trèo lên cây khế …Clik

PDF : Trèo lên cây khế… Clik

Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này khế ơi?.

Mặt trăng sánh với mặt trời,

Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Gợi ý 

I/ Mở bài :

Tình yêu là đề tài muôn thuở của ca dao dân ca. Nhưng không vì thế mà nó trở nên đơn điệu và nhàm chán Mỗi bài ca dao về đề tài này lại có một nét riêng độc đáo ẩn chứa những cung bậc sắc thái tình cảm, những giá trị khác nhau . Có bài ca là một câu chuyện tình đẹp. Có bài ca lại là nỗi lòng khắc khoải không yên cho duyên phận của đôi lứa. Và cũng có khi đó còn là nỗi lòng chua xót vì lỡ dở tình duyên  :

Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này khế ơi?.

Mặt trăng sánh với mặt trời,

Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

II/ Thân bài

Nếu “Thân em như…”là nỗi đau thân phận của người phụ nữ, thì lối mở đầu “Trèo lên…” lại là nỗi lòng chua xót vì lỡ dở tình duyên của chàng trai. Với lối mở đầu đưa đẩy quen thuộc “Trèo lên cây khế nửa ngày,”Tác giả dân gian đã gợi hững cho những câu tiếp theo: “Ai làm chua xót lòng này khế ơi?”

_ Đại từ phiếm chỉ “Ai” thật mơ hồ nhưng cũng thật xác định. Còn ai vào đây nêu không phải là xã hội phong kiến xưa đã từng ngăn cách, làm tan nát biết bao mối tình của những đôi lứa yêu nhau. Một từ ai mà như xoáy vào lòng người bao nỗi niềm chua xót đắng cay.

Với nỗi lòng như thế chàng trai cất tiếng hỏi :

_ Ai làm chua xót lòng này khế ơi . Chàng trai hỏi khế để bộc lộ lòng mình : Khế chua như lòng người cũng chua xót vậy.  Một chút chơi chữ tài hoa của người xưa làm cho câu hỏi ấy càng thêm da diết thấm thía

Chua xót vì lỡ duyên nhưng tình nghĩa của chàng trai với cô gái vẫn trước sau như một :

_                         “Mặt trăng sánh với mặt trời

                           Sao mai sánh với sao hôm chằng chằng”

Ta với mình cho dù xa cách muôn trùng như mặt trăng với mặt trời như sao hôm và sao mai nhưng tình nghĩa đôi ta vẫn đẹp đôi vừa lứa vẫn thủy chung bền vững. Bởi sao hôm và sao mai vốn chỉ là sao kim, ánh sáng của mặt trăng cũng vốn là từ ánh sáng mặt trời mà có. Và bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ mang tính vĩnh hằng ( mặt trăng sánh với mặt trời; sao hôm sánh với sao mai ), kết hợp với điệp ngữ (sánh với…) và từ láy (chằng chằng) tác giả dân gian đã khẳng định tình nghĩa chung thủy vững bền ấy của chàng trai.

Dường như còn sợ cô gái chưa hiểu hết tình cảm của mình, Chàng trai bộc lộ nỗi lòng của mình :

_ Mình ơi có nhớ ta chăng

Mình – ta là mô típ xưng hô quen thuộc nhưng gần gũi đọng lại biết bao ân tình tha thiết sâu lặng của chàng trai.

+ Mình ơi có nhớ ta chăng, chàng trai hỏi cô gái nhưng thực chất là để bộ lộ nỗi lòng của mình. Nỗi lòng ấy được chàng trai một lần nữa khẳng định :

_ Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.  Sao Vượt, đó là tên cổ của sao Hôm. Sao Hôm mọc sớm từ buổi chiều, lúc ấy trăng chưa mọc. Có khi sao Hôm vượt lên đến đỉnh của bầu trời( sao Vượt ) thì trăng mới mọc nhưng cũng là lúc sao lặn. ấy vậy mà chàng trai tự ví

+ Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. Hình ảnh thơ đẹp giàu ý nghĩa, diễn tả  cái mòn mỏi của sự chờ đợi, cái cô đơn của sự ngóng trông vô vọng và cả nỗi đau của người lỡ duyên thất tình

Nhưng cũng qua sự chờ đợi mòn mỏi ấy, ta cũng thấy được nét đẹp trong tâm hồn của chàng trai : Đó là vẻ đẹp của tình nghĩa con người. Vẻ đẹp ấy trước sau, mãi mãi vẫn sáng, vẫn nhấp nháy như ngôi sao Vượt trên trời như tình người trong ca dao xưa khi nói về những mối tình lỡ làng duyên kiếp

III/ Kết luận 

ĐỀ 2/ Cảm nhận của em về bài ca dao số 1 trong chùm ca dao hài hước ?

1/ Mỏ bài :

Ca dao dân ca là tiêng lòng của nười bình dân xưa. Mỗi bài ca cất lên có thể là một lòi than vì bị tước đoạt quyền làm chủ của mình; cũn có khi là nỗi lòn chua xót vì lỡ dỏ tình duyên. Nhưng trong vô vàn tiếng kêu thương ấy cũn có những tiếng cười vui hóm hỉnh, mà bài ca dao là một điển hình :

        “Cưới nàng anh toan … nó ăn  “

2/ Thân bài :

Bài ca trên là lời đối đáp của chàng trai và cô gái. Họ nói về vấn đề dẫn cưới và thách cưới.

Và trong việc dẫn cưới của chàng trai dự định dẫn : Voi, trâu, bò. Đó là những lễ vật thật to lớn sang trọng linh đình mà chỉ nhà giàu mới có được. Còn với chàng trai đầu tắt mặt tối quanh năm suốt tháng vẫn không đủ ăn lấy đâu ra voi, trâu bò để mà dẫn cưới. Nên, đó chỉ có thể là kết quả của sự tưởng tượng, là lối nói khoa trương phóng đại làm đẹp lòng người yêu của chàng trai

Dự định thật cao sang. Nhưng để thực hiện cái dự định cao sang ấy chàng trai còn chút băn khoăn bối rối. Ta hãy nghe chàng trai lí giải sự băn khoan ấy của mình :

          Anh sợ quốc cấm nên voi khôn bàn   

              Dẫn trâu  sợ họ mấu hàn

     Dẫn bò sợ họ nhà nàn co gân.

Xem ra chàng trai quả là biết lo xa, biết nghĩ đến người khác. Và với cách lí giải có vẻ có tình lại có lí đến vậy thì tất yếu dẫn đến  kết quả của việc dẫn cưới :            

                                                Miễn là có thú bốn chân

                                         Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

Một con chuột béo nhưng không phải cho riêng nàng hay gia đình nàng mà là cho cả làng. Yếu tố gây cười của câu ca dao chính là ở  lối nói khoa trương phong đại của chàng trai với cô gái về cái dự định to lớn của mình ; ở sự đối lập giữa chất lượng và số lượng lập giữa dự định và thực tế :    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng

Cưới hỏi là lúc bộc lộ rõ nhất cái nghèo. Và người bình dân đã chọn hoàn cảnh điển hình ấy để tự cười mình một cách hồn nhiên vô tư hóm hỉnh.  Qua đó ta cũng khám phá ra được vẻ đẹp trong tâm hồn của người lao động : Dù trong  cảnh nghèo, họ vẫn luôn lạc quan yêu đời, ham sống

Đáp lại lời dự định dẫn cưới của chàng trai, cô gái cũng sắc sảo không kém. Trước tiên cô cảm ơn và lấy làm tự hào về chàn trai :

          Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngan như là

   Sau đó cô thách lại :

            Người ta thách lợn thách gà

       Em đây thách cưới một nhà khoai lang.

Nếu anh định dẫn bằng thú 4 chân thì em đây khác người thách bằng vật : “Một nhà khoai lang”.  Cô gái dơ thật cao thách cưới hẳn “một nhà” thật to thật sang. Nghe đến đây chắc hẳn chàng trai phải choáng váng vì lo sợ. Nhưng ngay sau đó cô lại hạ xuống se sẽ : “Khoai lang” – một thứ bình dân nhất của những người bình dân. Đến đây chàng trai như vỡ oà vì sung sướng còn người đọc bật cười về sự hài hước hóm hỉnh của cô gái Và chúng ta hãy nghe cô lí giải việc thách cưới của mình :

       “Củ to cô để mời làng”.

  Còn như củ nhỏ, họ hang ăn chơi

         Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi

 Để cho con trẻ con ăn chơi giữ nhà

         Bao nhiêủ củ rím củ hà

Để cho con lợn con gà nó ăn

   Qua cách lí giải vấn đề, ta thấy cô gái không chỉ thông minh hóm hỉnh (biết làm đẹp lòng người yêu) mà họ còn luôn lạc quan, nhưng cũng rất thực tế biết bằng lòng với gia cảnh của mình

3/ Kết luân : …

Đế 3/ Phân tích bài thơ  làm nổi bật vẻ đẹp của người tráng sĩ đời Trần ?

a/ Mở bài :

    Triều đại nhà Trần với ba lần chiến  thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, khôn chỉ là  mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữa nước của lịch sử dân tộc ta. Mà còn là nuồn cảm hứng bất tậm của thi ca: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu. Góp vào tiếng nói chung ấy Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi, về khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lặng:

“Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân hùng khí át sao Ngưu.

   Công danh nam tử còn vương nợ,

         Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

b/ Thân bài

Thuật hoài hay ngôn hoài đều được dịch là tỏ lòng . Ở hai câu đầu Phạm Ngũ Lão muốn bày tỏ : Niềm tự hào về tư thế về khí thế chiến đấu của người tráng sĩ;của ba quân, của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mà ở đó nổi bật lên hình ảnh người tráng sĩ : Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu

Nếu câu thơ dịch “Múa giáo non sông trải  mấy thu” gợi ra tư thế động, nặng về sự phô diễn tài nghệ cá nhân  . Thì ở nguyên tác “ Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu” lại gợi ra tư thế tĩnh, tư thế chuẩn bị, tư thế hiên ngang dũng mãnh, sẵn sàng  chiến đấu và chiến thắng. Và cũng qua câu thơ ấy, ta còn biết tầm vóc lớn lao kĩ vĩ của người tráng sĩ: Vừa mang kích thước của vũ trụ – giang sơn ngọn giáo non sông),  vừa mang độ dài của thời gian, của lịch sử – kỉ thu, vừa có lí  tưởng và mục đích cao cả (bảo vệ non song)

Và như thế, để khắc hoạ chân dung người tráng sĩ đời Trần, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật hoành tráng, Phạm Ngũ Lão đã khắc hoạ thành công hình ảnh tráng sĩ với tư thế hiên ngang, với khát vọng yêu nước hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại xưa

Nói đến tráng sĩ bền bỉ hiên ngang cứu nước mà nói với hình ảnh cắp ngang ngọn giáo vẫy vùng khắp non sông trải mấy mùa thu ít ra cũng có sức hấp dẫn tối đa.  Hình ảnh ấy càng trở nên lớn lao hơn, mạnh mẽ vững chãi hơn khi phía sau người tráng sĩ có sự hậu thuẫn của ba quân :

    “ Ba quân tì hổ khí thôn Ngưu.”

_ Ba quân chính là đội quân xung trận, là thế hệ Phạm Ngũ Lão và cũng là hình ảnh dân tộc . Ba quân gợi ra sự đông đảo trùng trùng điệp điệp .

Đội quân “Sát thát” ấy không chỉ đông đảo về số lượng mà còn xung trận với sức mạnh phi thường :  Ba quân tì hổ khí thôn Ngưu

Hình ảnh thơ trên có thể hiểu là ba quân sức mạnh như hổ báo có thể nuốt trôi trâu. Nhưng ta cũng có thể hiểu là ba quân như hổ báo, khí thế sức mạnh át cả sao Ngưu.

Dù hiểu theo cách nào ta cũng thấy hợp lí, cũng là bằng nghệ thuật thậm xưng kết hợp với hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ không chỉ tạo ra một hình tượng thơ mang tầm vóc vũ trụ mà còn thể hiện được khí thế sức mạnh vô địch của ba quân của dân tộc. Hình tượng thơ ấy còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc.  Tráng sĩ và ba quân, đó là mối quan hệ hài hoà mật thiết giữa cá nhân với dân tộc với thế hệ. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng làm tăng thêm khí thế ngất trời của ba quân. Đồng thời khí thế của ba quân lại làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm cao đẹp và lộng lẫy. Mỗi con người đều tìm thấy bóng dáng của mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp.

    Và cũng chỉ qua hai câu thơ,      

    và trong bức tranh hoành tráng chung về đất nước về dân tộc, người đọc cũng hình dung khá rõ vẻ đẹp sử thi của nhân vật trữ tình trong tư thế hiên ngang, tư thế của một vị tướng.

Tiếp nối mạch cảm xúc ở hai câu thơ trên, hai câu sau nhà thơ thể hiện                      Khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước vì dân tộc:

                          Nam nhi vị liễu công danh trái,

                         Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Công danh, đó là quan niệm nhân sinh thời phong kiến. Người xưa cho rằng làm trai phải lập công để lại sự nghiệp, lập danh để có tiếng thơm được lưu tên trên bảng vàng bia đá.

Với ý thúc hệ như vậy,  Phạm Ngũ Lão cũng không ngoại lệ: “Công danh nam tử còn vương nợ.”

Ở thời đại Phạm Ngũ Lão, chế độ phong kiến Việt Nam đang trên đà xây dựng và phát triển, quyền lợi của giai cấp phong kiến về cơ bản phù hợp với quyền lợi của dân tộc, của nhân dân lao động. Hơn nữa đất nước lại đang có giặc ngoại xâm, nên công danh mà ông nói đến ở đây chính là : Khát vọng được lưu danh của nhà thơ cũng đồng nghĩa với khát vọng lập nhiều chiến công, khát vọng hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước. Khát vọng ấy còn có ý nghĩa là luôn sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì đất nước.

   Như thế, công danh mà Phạm Ngũ Lão nói đến ở đây là thứ công danh được làm lên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công chứ không phải là thứ công danh tầm thường mang đậm màu sắc anh hùng cá nhân.

Nợ công danh như một gánh nặng mà trán sĩ đời Trần nói chun, Phạm Ngũ Lão nói riêng nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu cùng lòng dũng cảm. Và cũng từ cái nợ công danh ấy mà ở nhà thơ nảy sinh một nỗi “thẹn: ”Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” – Luống thẹn tai nghe chuyên Vũ Hầu.

Thẹn là xấu hổ, là thể hiện lòng tự trọng của một con người.Nỗi then của nhà thơ không phải là nỗi thẹn thông thường của một con người bình thường. Mà đó là nỗi thẹn của một người anh hùng trước vận mệnh của non sông đất nước.

 Nhà thơ thẹn vì chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng để khôi phục giang sơn giải phóng đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm.

Điều đáng nói là ở chỗ : ông là người công danh lừng lẫy đánh đông dẹp bắc, trăm trận, trăm thắng mà vẫn cảm thấy mình vương nợ với đời, còn phải thẹn khi nghĩ đến chuyện Vũ Hầu. Duy một điều đó cũng đã cho ta biết :  Khát vọng lập công và nhân cách của nhà thơ cao cả biết chừng nào. Sự khiêm tốn và nỗ lực vươn tới không ngừng của tác giả có giá trị cổ vũ thế hệ sau. Và chính vì biết thẹn trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ, người anh hùng Phạm Ngũ Lão.

Và chính vì biết thẹn trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ, người anh hùng Phạm Ngũ Lão.

Quả thực Phạm Ngũ Lão và thế hệ của ông không hề nói suông, không chỉ biết “thẹn”. Mà tất cả đều biến thành hành động, học tập binh thư, rèn luyện cung kiếm “khiến cho người người giỏi  như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai…”, lập được nhiều chiến công hơn nữa để Tổ quốc Đại Việt trường tồn bền vững “non sông nghìn thuở vững âu vàng”

 c/ Kết luận

Ra đời cách chúng ta vài thế kỉ, song . Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ mang âm hưởng anh hùng ca. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng thơ kĩ vĩ, tráng lệ,  Bài thơ mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời hào khí Đông A

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: