Phía trước là chân trời

Tự luận 12

ÔN-TÁC-GIẢ-HỒ-CHÍ-MINH _ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ( PDF _ Clik)


ĐỀ 1 : / Phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay : Vừa khéo léo, vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Hãy Phân tích phần mở đầu của bản Tuyên Ngôn Độc lập của hồ Chí Minh để làm sáng tỏ ý kiến trên

Dưới đây là một số gợi ý

I/ Mở bài :

II/ Thân bài :

1/ Phần mở đầu có nhiệm vụ :

Nêu nguyên lí chung (xác định cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn ) : Quyền Độc lập của các dân tộc trong đó có dân tộc Việt Nam

 a/ Bác đã  xác định cơ sở pháp lí cho bản Tuyên ngôn của mình bằng cách trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mĩ và Pháp

(_ Nêu dẫn chứng)

+ Bản TNĐL năm 1776 của  Mĩ “Tất cả…mưu cầu hạnh phúc”

+Bản TN nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp 1791 “Người ta sinh ra…bình đẳng về quyền lợi”

(_ Phân tích ý nghĩa của việc trích dẫn trên)

+ Từ lẽ phải – chân lí chung của nhân loại, Bác đã xác định cơ sở pháp lí vững chắc cho bản Tuyên ngôn Độc lập của mình : đó là quyền Độc lập tự do của các dân tộc

+ Bác đã khéo léo và kiên quyết khẳng định quyền Độc lập của dân tộc Việt Nam bằng chính lời lẽ của cha ông chúng. Qua đó cũng ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng

+Bác đã đặt ba cuộc cách mạng ngang nhau, ba nền độc lập ngang nhau. Từ đó nâng tầm vóc của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam

b/ Không chỉ trích dẫn mà Bác còn mở rộng, phát triển vấn đề thành một tư tưởng mới

(_ Dẫn chứng) : “Lời nói bất hủ ấy suy rộng ra có nghĩa là  …quyền tự do”

(_ Phân tích sự tài tình trong cách lập luận)

+ Bác cho rằng : mọi người là tất cả các con người. Tất cả các con người này làm nên dân tộc. Do đó mọi người có thể thay thế cho dân tộc

+ Như vậy từ quyền con người Bác đã vận dụng thiết thực sáng tạo vào quyền Độc lập  dân tộc. Từ khái niện con người cá nhân sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục

→Bác đã thức tỉnh trí tuệ Việt Nam và trí tuệ nhân loại

c/ Và một làn nữa  Bác khẳng định lại cơ sở pháp lý vững chắc của bản tuyên ngôn: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi” – đặt cơ cở pháp lí vũng chắc cho nên Độc lập của dân tộc Việt Nam

ĐỀ 2/ Cảm nhận của em về phần 3: tuyên bố Độc lậpcủa bản Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh )

Dưới đây là một số gợi ý cho phần thân bài

1/ Nêu cảm nhận chung

Tuyên ngôn Độc lập, không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà nó còn là tiếng nói thiêng liêng chấm dứt chấm dứt giai đoạn đấu tranh lâu dài gian khổ và mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Với tài lập luận thông minh khéo léo, Bác đã đi từ quyền con người sang quyền Độc lập dân tộc ; từ con người cá nhân của chủ nghĩa tư bản sang khái niệm dân tộc một cách đầy tổng quát và thuyết phục Để rồi dẫn đến (phần 3) tuyên bố hùng hồn và thuyết phục về quyền độc lấp của dân tộc Việt Nam. Lời tuyên bố nghe như một lời thề sắt đá vừa thiêng liêng vừa khích lệ nhân dân, cảnh báo kẻ thù

2/ Phân tích chứng minh làm rõ cảm nhận trên

Vậy tài lập luận , tính thuyết phục sự hùng hồn của phần tuyên bố này được thể hiện ở chỗ nào ?

_ Tuyên bố thoát li hẳn mọi quan hệ với Pháp

Tác giả đã đanh thép và triệt để : “chúng tôi – lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam”. Những cụm từ “thoát li hẳn”, “xóa bỏ hết”, “xóa bỏ tất” như những nhát gươm chém sắc chém thẳng vào những dây dợ còn dính líu của thực dân Pháp, phủ nhận tuyệt đối mọi quan hệ lệ thuộc của Pháp và Việt Nam

_ Lấy lời nói của các nước đồng minh để khéo léo thắt buộc các nước Đông minh : “Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhân nguyên tắc dân tộc bình đẳng quyết không thể không công nhận độc lập của nhân dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”

+“Tin” là tỏ vẻ tôn trọng là giả định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là cách Bác buộc họ không thể không công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Bác đã lùi một bước “tin” để tiến thêm hai bước dài “quyết không thể không công nhận…”, hai lần phủ định “không” để dẫn tới sự khẳng định mạnh mẽ “quyền độc lập của dân tộc Việt Nam”

+Bác còn sử dụng những câu văn có kết cấu song song : “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”àTao điệp khúc âm vang hào hùng.

_ Tuyên bố Độc lập chủ quyên của nước Việt Nam mới

+ Bản tuyên ngôn kết thúc băng nhưng câu móc xích trùng điệp nêu bật ý chí khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam : “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập và thực sự đã là một nước tự do độc lập.Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”

+ Lời văn không khô khan mà trũ tình đanh thép. Mỗi từ mỗi câu đều chứa đựng trong đó sức nặng tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi sinh để giữ độc lập tự do. Cụm từ độc lập tự do được lặp đi lặp lại ba lần như khắc sâu vào muôn triệu người Việt Nam, như tiếng kèn xung trận vang lên mạnh mẽ hào hùng. Lời tuyên bố mở nước cũng là lời thề sắt đá vừa thiêng liêng vừa khích lệ nhân dân ta vừa là lời cảnh báo đối với kẻ thù. Tác phẩm kết thúc những cũng là mở đầu cho một thời kì đấu tranh giữ vững chủ quyền độc lập tự do của dân tộc.

 ĐỀ 3  

Nhận định về giá trị của văn kiện Tuyên ngôn Độc lập, có ý kiến cho rằng : 

“ Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn là một tác phẩm văn chương mẫu mực…” 

Anh ( chị ) có suy nghĩ gì về ý kiến trên.

B/ Phân tích đề : 

_ Luận đề :  Giá trị lịch sử và giá trị văn chương trong Tuyên ngôn Độc lập

_ Luận điểm :

+ Nêu khái quát suy nghĩ của mình về nhận định trên

+ Phân tích và chứng minh cho suy nghĩ đó

+ Liên hệ mở rộng

_ Phạm vi kiến thức : Chủ yếu trong Tuyên ngôn Độc lập

_ Kiểu bài : Nghị luận bàn về một ý kiến bàn về văn học

C/ Dàn bài 

I/ Mở bài : 

( có thể vào đề trực tiếp )

II/ Thân bài :

@/ Nêu khái quát suy nghĩ của mình : 

_ Một tác phẩm văn học thường gắn với số phận của một cá nhân nào đó. Nhưng những áng thiên cổ hùng văn lại gắn liền với số phận của cả một dân tộc một quốc gia.  Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một tác phẩm như thế.

_ Sau 80 năm quất khởi đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân ta lại ca khúc khải hoàn : Độc lập tự do. Tác phẩm không chỉ ghi dấu một thời hào hùng của lịch sử dân tộc mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm trí muôn triệu người đọc, người nghe

_ Nên cho rằng “ Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn là một tác phẩm văn chương mẫu mực…” là rất chí lí ( đồng tình )

@/ Phân tích và chứng minh làm sáng tỏ suy nghĩ trên

1/ Tuyên ngôn Độc lập có ía trị lịch sử to lớn

( là bởi vì )

a/ nó ra đời trong không khí và thời điểm trọng đại đối với vận mệnh của một dân tộc,

lại được người con ú tú nhất của dân tộc ấy đại diện nói lên ý chí và khát vọng của đất nước mình

_ Sau bao nhiêu năm vùng lên phá bỏ xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, ngày 19/8/45, chính quyền ở Hà Nội đã về tay nhân dân. Và ngày 26/8 Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà 48 Hàng Ngang nNgười soản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2/9/45, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước 50 vạn quốc dân đồng bào.

_ Đó là áng văn mở nước của thời đại cách mạng vô sản, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc : kỉ nguyên độc lập tự do

b/ Nó thực sự là một văn kiện lịch sử to lớn :

Cho đến nay, người ta không thể tìm thấy một văn kiện thứ hai

*/ Khái quát đầy đủ, toàn diện về lịch sử Việt Nam của hơn 80 năm trước ngày Độc lập

“…Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”…

Lại có những

* Chi tiết (thật ) cụ thể điển hình :

“Trước ngày 9/3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Yhậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.

Song không chỉ có vậy, với trí tuệ mẫn tiệp

*/ Hồ Chí Minh đã phân tích thế cuộc trong và ngoài nước một cách sắc sảo và dự báo những gì sẽ diễn ra sau đó

Vì thế

_ Khi đặt bút viết tác phẩm này, đối tượng hướng tới của Bác không chỉ là nhân dân trong nước, nhân dân thế giới và công luận quốc tế mà còn là trùng vây đế quốc Anh, Pháp Mĩ và bè lũ phản độngTrung Hoa Quốc dân đảng – những kẻ đang tung ra trước dư luạn thế giới những luận điệu xảo trá…

Cho nên,

_ Bên cạnh nhiệm vụ tuyên bố độc lập, Bác còn lật tẩy bản chất xấu xa đê hèn và đập tan những luận điệu xảo trá nhằm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp.

Và không phải ngẫu nhiên,

_ Trong phần mở đầu trang trọng của bản Tuyên ngôn Bác trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới… nhằm cảnh tỉnh bọn có dã tâm xâm lược bằng chính lời răn dạy của tổ tiên cha ông chúng. Đó là sự mền dẻo của sách lược lạt mềm buộc chặt

Với tầm nhìn của một nhà chiến lược

_ Bác chỉ rõ cục diện chính trị mới “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Từ nô lệ, “dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng lên nước Việt Nam độc lập”, “dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập lên chế độ dân chủ cộng hòa”. Để rồi giữa Ba Đình rực nắng, Người trịnh trọng tuyên bố “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và Độc lập, và thực sự đã trở thành một nước tự do và Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc ta sau đó đã được Bác dự báo trước từ thời điểm ấy. Và Bác cũng đã chuẩn bị tâm thê cho dân tộc ta từ buổi trưa lịch sử ấy

Không chỉ có giá trị lịch sử to lớn

2/ Tuyên ngôn Độc lập còn là một tác phẩm văn chương mẫu mực

mà ở tác phẩm ta cảm nhận được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương mang tư tưởng lớn lao của thời đại mới.

a/  Tuyên ngôn Độc lập là bài văn chính luận mẫu mực :

*/ Sức thuyết phục mạnh mẽ được toát ra từ lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép tác động mạnh đến lí trí người đọc người nghe

_  Nhiệm vụ của phần mở đầu của một bản tuyên ngôn là nêu nguyên lí chung làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài.

_ Để xác định cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn của mình Bác đã mở đầu bằng cách trích dẫn 2 câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới

Bản Tuyên ngôn Độc Lập 1776 của Mĩ viết :“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”;

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng  Pháp 1791 cũng nói : “Người ta sinh ra có quyền tự do và bình đẳng về quyền lợi. Và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

–>Bằng cách ấy, Bác không chỉ đặt cơ sở tư tưởng vững chắc cho bản Tuyên ngôn Độc lập mà còn khéo léo và kiên quyết khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của người Pháp người Mĩ, dùng gậy ông đập lưng ông nhằm rung lên hôi chuông cảnh báo ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng

–>Bằng cách mở đầu như thế, Bác đã đặt ba cuộc cách mạng ngang nhau, ba nền độc lập ngang nhau. Bác đã nâng tầm vóc văn hóa Việt Nam sánh ngang với ánh sáng văn minh thế giới

Nét sáng tạo mới mẻ trong ngòi bút chính luận Hồ Chí Minh không chỉ ở việc trích dẫn  trong 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng mà

_ Bác còn suy rộng  phát triển  vấn dề lên thành một tư tưởng mới :

+ Những gì tuyên ngôn của người Pháp người Mĩ đưa ra đều đáp ứng cho nhu cầu thuộc về cá nhân, về cái tôi của mỗi người, không có bóng dáng của lập trường dân tộc

+ Tài lập luận của Bác là ở chỗ Bác cho rằng mọi người là tất cả con người, tất cả con người làm thành dân tộc. Do đó mọi người có thể thay thế bằng dân tộc : “Từ lời nói bất hủ ấy suy rộng ra có nghĩa là : Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Óc suy luận của nhà chính trị Hồ Chí Minh quả là sáng suốt và lôgic, biết cách dùng từ và dùng đúng chỗ. Từ quyền con người Bác đã vận dụng thiết thực và sáng tạo vào quyền độc lập dân tộc, từ khái niệm con người cá nhân sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục.

“Những lẽ phải không ai chối cãi” của phần mở đầu được dùng như một tiền đề, một xuất phát điểm chắc chắn để dẫn tới cái đích cuối cùng :

_ Bác trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới về nền độc lập của dân tộc

Và trong phân tuyên bố này cái tài lập luận của nhà chính trị Hồ Chí Minh là ở chỗ :

+ Lấy lời nói của các nước đồng minh để khéo léo thắt buộc các nước Đông minh : “Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhân nguyên tắc dân tộc bình đẳng quyết không thể không công nhận độc lập của nhân dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”

“Tin” là tỏ vẻ tôn trọng là giả định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là cách Bác buộc họ không thể không công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Bác đã lùi một bước “tin” để tiến thêm hai bước dài “quyết không thể không công nhận…”, hai lần phủ định “không” để dẫn tới sự khẳng định mạnh mẽ “quyền độc lập của dân tộc Việt Nam”

Một bài văn chính luận chặt chẽ không thể thiếu

*/  Hệ thống luận điểm, luận chứng chặt chẽ toàn diện, tiêu biểu và đầy ấn tượng

_ Để bóc trần bộ mặt giả danh khai hóa bảo hộ của thực dân Pháp, để chứng minh chúng là kẻ làm trái nguyên lí, Bác đã

+  Khái quát hai loại tội ác

về chính trị …

Về kinh tế …

–>Với ngòi bút hiện thực sắc sảo, Bác không chỉ tái hiện sinh động chân dung tên khổng lồ thực dân Pháp với bàn tay sắt bóp chết một sinh vật nhỏ bé mà còn xé toang chiêu bài khai hóa bảo hộ giả dối bịp bợp bấy lâu nay của chúng

Không chỉ khái quát hai loại tội ác trên, Bác còn :

+ Vạch trần bộ mặt hèn nhát và phản bội của chúng “…”

. Quì gối đầu hàng mở cửa rước Nhật- bán nước ta 2 lần cho Nhật

. Chúng quang thêm một ách lên đầu lên cổ nhân dân Việt Nan, kết quả là 2 triệu người chết đói

. Chúng biến Việt minh thành kẻ thù chính và thẳng tay khủng bố

Đối lập với cái dã man ti tiện của chúng là

_ Nhân dân Việt Nam – những người làm đúng nguyên lí

Đối với những kẻ bàn tay còn vấy máu

+ Việt minh vẫn đối xử nhân đạo “giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng tài sản cho họ”.

–>Đến đây hình ảnh thực dân Pháp hoàn toàn nhỏ bé yếu đuối đáng thương. Ta hiện ra ở thể đối lập : Nhân hậu, anh hùng vị tha cao thượng

–> Bằng thế đối lập ấy Bác khẳng định trước công luận quốc tế : chính thực dân Pháp là những kẻ làm trái nguyên lí đi ngược lại truyền thống văn hóa của cha ông chúng và của nhân loại, nhân dân Việt Nam là những người làm đúng nguyên lí. Vậy thì ai sẽ bảo hộ ai

Không những tạo ra thế đối lập giữa ta và địch, Bác còn

+ Khẳng định sự thật lịch sử

. Từ mùa thu 1940 nước ta trở thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa của Pháp

. Dân ta vùng lên giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp

Pháp chạy Nhật hàng vua Bảo Đại thoái vị

–> Về lý một vật đã bán cho người khác tất thuộc quyền sở hữu của người đó. Ta lấy lại vật đã mất từ tay Nhật, như thế về mọi mặt, Pháp không có quan hệ gì với Việt Nam

b/  Chất văn chương của Tuyên ngôn Độc lập cũng tác động rất lớn đến người đọc, người nghe

*/ Bác xây dựng thực dân Pháp và dân tộc Việt Nam thành hai con người có thể hình dung diện mạo cốt cách và đối kháng nhau

Đó là hai hình tượng mang đầy tính thẩm mĩ của văn chương

Hay ngay cả

*/ Khi tố cáo tội ác thực dân Pháp, từng câu từng chữ bên cạnh thuật ngữ chính trị, còn ám ảnh nhức nhối tâm can người đọc bợi sức mạnh nghệ thuật của văn chương

_ Các đoạn văn, câu văn được mở đầu bằng hàng loạt từ “chúng” gắn với hành động tàn bạo… Cách nói trùng lặp ấy tạo cho đoạn văn giọng điệu liên hoàn không chỉ thể hiện tội ác chồng chất mãi không thôi của kẻ thù mà còn là những nhát búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc mĩ miều của thực dân Pháp

Bên cạnh đó tác giả còn

_ Sử dụng những điệp từ, điệp ngữ, trạng từ có sức nặng miêu tả bản chất  của sự việc

_ Hình thức đối lập kết hợp cách nói giàu hình ảnh làm cho từng câu từng chữ như dồn nén bao căm giận bao cảm xúc

–> Cảm xúc hòa quyện với lí trí tạo lên sức mạnh chiến đấu sắc sảo trong văn phong chính luận Hồ Chí Minh

*/ Để nêu bật chân dung tên khổng lồ Pháp đang bị teo tóp co quắp run sợ, 

_ Bác đã dùng nhiều động từ miêu tả : Quì gối, đầu hàng, mở cửa rước Nhật, bỏ chạy…

_ Dùng từ nhấn mạnh cái ti tiện cái dã man của chúng : thậm chí, nhẫn tâm, giết nốt, số đông…

*/ Khi đập lại luận điệu xảo trá của thực dân Pháp

rằng Đông dương là thuộc địa của chúng, Bác đã dùng điệp ngữ , lặp cú pháp “sự thật là…chứ không phải”. Cách nói trùng lặp ấy khẳng định mạnh mẽ chiến thắng của ta và phủ nhận dắt khoát mọi sự bắt mối ảo tưởng về chủ quyền của Pháp trên đất Việt Nam

*/Tuyên bố với nhân dân thế giới về việc thành lập của một nhà nước mới,

_ tác giả đã đanh thép và triệt để : “chúng tôi – lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam”. Những cụm từ “thoát li hẳn”, “xóa bỏ hết”, “xóa bỏ tất” như những nhát gươm chém sắc chém thẳng vào những dây dợ còn dính líu của thực dân Pháp, phủ nhận tuyệt đối mọi quan hệ lệ thuộc của Pháp và Việt Nam

_ Bác còn sử dụng những câu văn có kết cấu song song : “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”àTao điệp khúc âm vang hào hùng.

_ Bản tuyên ngôn kết thúc băng nhưng câu móc xích trùng điệp nêu bật ý chí khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam : “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập và thực sự đã là một nước tự do độc lập.Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”

Lời văn không khô khan mà trũ tình đanh thép. Mỗi từ mỗi câu đều chứa đựng trong đó sức nặng tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi sinh để giữ độc lập tự do. Cụm từ độc lập tự do được lặp đi lặp lại ba lần như khắc sâu vào muôn triệu người Việt Nam, như tiếng kèn xung trận vang lên mạnh mẽ hào hùng. Lời tuyên bố mở nước cũng là lời thề sắt đá vừa thiêng liêng vừa khích lệ nhân dân ta vừa là lời cảnh báo đối với kẻ thù. Tác phẩm kết thúc những cũng là mở đầu cho một thời kì đấu tranh giữ vững chủ quyền độc lập tự do của dân tộc.

@/ Mở rộng :

III/ Kết luận

                               BÀI TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

ĐỀ 4 : Phân tích làm nổi bật Tây Bắc hùng vĩ và dữ dội qua nỗi nhớ của Quang Dũng ( Tây Tiến của Quang Dũng) (ĐỀ 4 TÂY BẮC HÙNG VĨ DỮ DỘI- PDF – Clik)

I/ Mở bài : 

Quang Dũng sinh năn 1921, mất năm1988. Tên thật là Bùi Dình Diệm, người làng Phượng Trì huyện Đan Phượng, Hà Tây . Ông là một nghệ sĩ có nhiều tài năng. Thơ của ông trung hậu yêu tha thiết quê hương đất nước mình. Cái tôi trong thơ Quang Dũng hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn. Nhà thơ  có khả năng cảm nhận và diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên của con người một cách tài hoa tinh tế nhưng cũng rất mực bình dị chân thành.Và  Tây Tiến, ( một đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp) là một bài thơ như thế. Và có lẽ gấp bài thơ lại bạn đọc vẫn không thể quên hình ảnh một Tây Bắc hũng vĩ và dữ dội qua nỗi nhớ của tác giả :

                                        “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

                                         ….

                                       Mai châu mùa em thơm nếp xôi”

II/ Thân bài :

1/ Hoàn cảnh ra đời

–   Cuối năm1947 Quang Dũng ra nhập đoàn quân Tây tiến, tham gia phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt

–  Địa bàn hoạt động của Đoàn quân khá rộng : Mai Châu, Mộc Châu,Sầm Nứa rồi vòng về miền tây Thanh Hoá.

–  Phần đông họ là những thanh niên trí thức Hà Nội, sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn gian khổ, đánh trận thương vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng họ vẫn chiến đấu rất dũng cảm, vẫn lạc quan yêu đời.

– Cuối năm1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh(Hà Đông cũ), ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau in lại năm 1975, ông bỏ chữ “Nhớ”.

Bài thơ là nỗi nhớ niềm tự hào của tác giả đối với đoàn binh Tây Tiến.

2 / Phân tích :  Miền Tây hùng vĩ và dữ dội qua nỗi nhớ của tác giả

Một thời của Tây Tiến tưởng như đã lùi vào kỷ niệm. Nhưng rồi khi ngồi ở Phù Lưu Chanh, trong phút chốc, những kỷ niệm đó lại trở về trong nỗi nhớ thương  cồn cào tha thiết. Và

a / Miền Tây hiện lên trước hết qua hình ảnh sông Mã

                 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

                 Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Con sông cuồn cuộn chảy giữa những ngày gian truân vất vả của người chiến sĩ Tây Tiến. Nay đã xa rồi, đã là quá khứ rồi, nhưng nỗi nhớ thì không thể nào nguôi được. Trong lòng nhà thơ luôn cảm thấy :

_“nhớ chơi vơi”. Đó là nỗi nhớ không định hình, khó nắm bắt, khó diễn tả bằng lời.

Nỗi nhớ ấy vừa bao la bát ngát lại vừa có chiêu sâu như xoáy vào lòng người.     Tiếng gọi

_“Tây Tiến ơi” vang lên thân thiết như tiếng gọi người thân.

_ Từ cảm “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng tha thiết sâu lắng bồi hồi ngân dài trong lòng người vọng vào thời gian, lan rộng trong không gian

_ Hai tiếng “Xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ hô ứng với điệp từ “nhớ”ở câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây.

Sau tiếng gọi tha thiết ấy biết bao hoài niệm về một thời gian khổ của chiến trường Tây Bắc xưa hiện về .

b/ Và tiếp theo đó là  những tên bản tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương 

_                                  Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

                                     Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Và cả những khổ dưới, ta thấy xuất hiện Pha Luông Mường Hịch, Mai Châu

→Đó không chỉ là những địa danh không chỉ gợi nên bao nhớ thương vơi đầy mà nó còn để lại những ấn tượng đậm nét về một miền xa xôi heo hút thâm sơn cùng cốc,

→ Gắn với những địa danh ấy là địa bàn hoạt động gian khổ vất vả của đoàn binh Tây Tiến .

Họ đi trong sương lấp, trong đêm hơi

_ Hình ảnh “ sương lấp đoàn quân mỏi” gợi cho người đọc một sự liên tưởng →đoàn quân Tây Tiến đi giữa biển sương mù của núi rừng. Họ như bị lấp đi, bị che đi bởi sương hay họ cũng đang bị trĩu xuống trong sự mệt mỏi vì sự khắc nghiệt của thời tiết. Câu thơ gợi cảm giác lạnh lùng, nặng nề, đe doạ.

_ Nhưng hình ảnh “ hoa về trong đêm hơi”→ vẫn là sương mù của núi rừng, vẫn là thời tiết khắc nghiệt  nhưng lại diễn tả một trạng thái lâng lâng của cái mệt mỏi gian khổ đã được vượt qua, đã được tiêu tan.

 → Câu thơ gồm sáu thanh bằng liên tiếp, diễn tả cái nhẹ nhàng cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đã đi tới đích sau chặng đường dài hành quân đầy thử thách.

Nhớ chiến trường xưa, Quang Dũng không chỉ nhớ về dòng sông Mã cuồn cuộn chảy, nhớ tới những địa danh vời vợi nghìn trùng, mà trong tâm tưởng của nhà thơ 

c/ Miền Tây  hiện lên qua thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội

                                  Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

                                  Heo hút cồn mây súng ngửi trời

                                  Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

                                  Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Câu thơ hun hút đi lên theo chiều cao của núi rừng

_ Dốc : Dốc lên thì khúc khuỷu gập ghềnh – Dốc xuống thì thăm thẳm như dẫn đến vực sâuè Câu thơ có 5/7 là thanh trắc kết hợp với một loạt từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) gợi cho người đọc cảm giác gồ ghề, lồi lõm, gập ghềnh, cheo leo hiểm trở của dốc núi.

 Đó chính là sự gian khổ mà người lính phải vượt qua. Còn núi thì sao ?

_ Đỉnh núi: mù sương cao vút, núi cao tưởng chừng như chạm tới mây : Cồn mây – Súng ngửi trời. Mây và sương mù tụ lại thành cồn heo hút, người lính đi trên những ngọn núi cao ấy như đi trên những cồn mây, mũi súng như ngửi trời, như chạm tới đỉnh trời. èMũi súng của người chiến sĩ đã được nhân cách hoá đầy chất lính nhưng cũng thật ngộ nghĩnh hồn nhiên yêu đời.

Hình ảnh đó khiến ta liên tưởng tới hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu.Tại đây ,àcái đẹp của thiên nhiên và con người đã gặp chỗ tương đồng. Thiên nhiên và con người đã trở nên thân thiết đến mức khó tin àvẻ đẹp nên thơ lãng mạn và hết sức hào hùng.

Núi tiếp núi, đèo tiếp đèo, hết lên cao lại xuống thấp như thử thách lòng người. Và giữa hai vách núi dựng đứng là :

_ Vực thẳm : “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”è Câu thơ được tạo bởi hai vế tiểu đối, kết hợp với nhịp thơ bị bẻ đôi  gấp khúc như diễn tả dốc núi vút lên đổ xuống gần như thẳng đứng.

Tây Bắc đâu chỉ có vậy. Mà

_ Thiên nhiên nơi đây còn rất hoang sơ và bí ẩn đến ghê rợn:

                       Chiều chiều oai linh thác gầm thét

                    Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người

Chiều chiều rồi đêm đêm thác gầm thét cọp trêu người

→Đó là những âm thanh khẳng định cái bí ẩn, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng luôn vang động. Những sức mạnh bí ẩn đó đã được nhà thơ ènhân cách hoá để tăng thêm phần dữ dội của thiên nhiên.

Và đối với những người lính,

d/ Gắn với thiên nhiên dữ dội ấy là những chặng đường hành quân

 _ Có thể là những chặng đường hành quân rất gian khổ nhưng không đè bẹp được ý chí của các anh.

Các anh đi trong sương lấp, đêm hơi, vượt dốc cao, vực thẳm lên đến tận cồn mây heo hút trong lam sơn chướng khí, gió núi mưa ngàn. Bao quanh các anh là mọi hiểm nguy như đe doạ, án ngữ bước chân các anh, như chực bóp nát đoàn quân mệt mỏi. Ngoại cảnh không làm các anh chùn bước. Qua giây phút rợn ngợp ban đầu, các anh lại tiến lên dũng mãnh hơn. Để rồi  khi chiếm lĩnh được mọi tầm cao, dừng chân trên một đỉnh đèo nào đó, phóng tầm mắt ra xa, qua  không gian mù mịt của sương rừng mưa núi, các anh chợt vỡ oà niềm vui sướng hạnh phúc trước cảnh làng quê êm đềm tuyệt đẹp như trải ra trưóc mắt :

+ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Nếu câu thơ trên phần lớn là thanh trắc, nhịp thơ bị bẻ đôi, gấp khúc thì đến đây ècó sự đối lập với câu thơ trên cả về hình ảnh, nhịp điệu, thanh điệu

→Câu thơ toàn thanh bằng êm ả mềm mại, nhẹ nhàng như một làn gió mát làm khô đi những giọt mồ hôi mệt nhọc của các anh,  và trải rộng trước mắt các anh hình ảnh thôn xóm xanh tươi thanh bình hoà lẫn trong làn mưa bụi bay gợi nỗi nhớ quê nhà.

Trên nẻo đường trường chinh đầy gian khổ và máu lửa ấy,

_  Các anh có thể phải hy sinh cả tính mạng của mình. Có anh đã không bao giờ còn được nhìn thấy làng quê người thân của mình :

                                         Anh bạn dãi dầu không bước nữa

                                    Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

+ Hai tiếng anh bạn cất lên như một tiếng khóc thầm.

+ Bốn chữ “gục lên súng mũ” thể hiện sự hy sinh vô cùng bi tráng. Anh ngã xuống trên đường hành quân giữa trận đánh, đầu gục lên súng mũ như đang trầm tư mơ mộng về Hà Nội. Dáng nằm của anh thật thanh thản nhẹ nhàng. Mặc dù

→Quang Dũng đã thay từ “chết” từ “hy sinh” bằng những từ “không bước nữa”, “gục”, “bỏ quên đời”, nói cách khác là tác giả đã sử dụng cách nói giảm nhưng lòng người đọc vẫn không khỏi trào lên bao nỗi xót xa thương tiếc.

Hiện thực chiến tranh xưa nay vẫn thế, sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu của các anh đổ xuống để xây đài tự do. Có điều là vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưngè không gợi ra sự bi luỵ thảm thương mà trái lại trong sự tiếc thương đó còn có sự tự hào khẳng định.

_ Vượt lên trên những gian khổ hy sinh, hành trang của người lính  đầy ắp những kỷ niệm đẹp về tình quân dân.

                                   Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

                                   Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

+“Nhớ ôi”, đó là tình cảm dạt dào, là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến.

+“Cơm lên khói” gợi ra cảnh tượng đầm ấm của tình quân dân.

Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng vượt núi lội suối trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, nghỉ ngơi ở một bản nào đó, quây quần bên nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm của lúa nếp ngay mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt người lính.

+ Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo trong ngôn từ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ ơn sâu nghĩa nặng đối với bà con  dân bản.

Và như thế, bên cạnh núi rừng hiểm trở với độ cao rợn người là mái nhà thấp thoáng ẩn hiện trong làn mưa mỏng nơi lưng chừng núi; bên cạnh vùng đất hoang dại chứa đầy bị mật ghê gớm của rừng thiêng với thác gầm thét, cọp trêu người là một bản làng có cơm lên khói, có mùi thơm của cơm nếp xôi và những cô gái xinh đẹp như những bông hoa rừng. Đây là khung cảnh thực của chiến trường Tây Tiến đã được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, hào hoa của những anh lính người Hà nội

III/ Kết luận….

 

ĐỀ 5: Phân tích làm nổi bật hình tượng tập thể người lính Tây Tiến  ( Tây Tiến của Quang Dũng) (ĐỀ5 – PDF – Clik)

I/ Mở bài : 

Quang Dũng sinh năn 1921, mất năm1988. Tên thật là Bùi Dình Diệm, người làng Phượng Trì huyện Đan Phượng, Hà Tây . Ông là một nghệ sĩ có nhiều tài năng. Thơ của ông trung hậu yêu tha thiết quê hương đất nước mình. Cái tôi trong thơ Quang Dũng hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn. Nhà thơ  có khả năng cảm nhận và diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên của con người một cách tài hoa tinh tế nhưng cũng rất mực bình dị chân thành.  Tây Tiến,  là một bài thơ như thế.  Gấp bài thơ lại bạn đọc vẫn không thể quên một Tây Bắc hũng vĩ và dữ dội, một Tây Bắc mĩ lệ duyên dáng.  Và ta càng không thể quên hình tượng độc đáo có một không hai trong lịch sử và trong thơ ca:Hình tượng tập thể người lính Tây Tiến                                

II/ Thân bài :

(1/Chuyển ý)

–   Cuối năm1947 Quang Dũng ra nhập đoàn quân Tây tiến, tham gia phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt

–  Địa bàn hoạt động của Đoàn quân khá rộng : Mai Châu, Mộc Châu,Sầm Nứa rồi vòng về miền tây Thanh Hoá.

–  Phần đông họ là những thanh niên trí thức Hà Nội, sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn gian khổ, đánh trận thương vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng họ vẫn chiến đấu rất dũng cảm, vẫn lạc quan yêu đời.

– Cuối năm1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh(Hà Đông cũ), ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau in lại năm 1975, ông bỏ chữ “Nhớ”.

Bài thơ là nỗi nhớ niềm tự hào của tác giả đối với đoàn binh Tây Tiến.

_ Trên cái nền hùng vĩ hiểm trở dữ dội của núi rừng (ở đoạn 1), cái duyên dáng thơ mộng mỹ lệ của Tây Bắc (ở đoạn 2), đến đoạn 3 hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với vẻ đẹp đầy tính bi tráng.

2/ Phân tích

(a/)Vẻ đẹp đó trước hết được biểu hiện qua diện mạo của họ

                                        Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                          Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

_ Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường hay đề cập đến căn bệnh sốt rét  hiểm nghèo. Quang Dũng trong “Tây Tiến” cũng không hề che dấu những gian khổ khó khăn, và sự hy sinh lớn lao của người lính. Chỉ có điều tất cả những cái đó không hiện ra một cách trần trụi, mà nó được nhà thơ phản ánh qua cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn.

+  Đoàn binh không mọc tóc là đoàn binh với những người lính đầu trọc lốc.Lời thơ như tếu, như đùa, nhưng chứa đựng trong đó là sự thật nghiệt ngã : các chiến sĩ Tây Tiến người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng cả tóc.

+ Còn hình ảnh  “quân xanh màu lá” là nhà thơ muốn nói đến căn bệnh sốt rét rừng. Những ngày đói ăn, thiếu mặc cùng căn bệnh sốt rét đã làm các anh tóc rụng da xanh tiều tụy

Và như thế với hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá”Quang Dũng đã phản ánh cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng ngọn tầm vông chống lại sắt thép quân thù.

(b/) Còn tính cách của họ thì sao ?

*/ Người lính Tây Tiến ốm nhưng không yếu. Ở họ toát lên sức mạnh tinh thần phi thường.

_ Đoàn binh ấy có thể“không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” nhưng họ vẫn :

+“dữ oai hùm”,dữ dằn oai phong như hổ. Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” đã nói lên chí khí hiên ngang tinh thần quả cảm. Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản. Quang Dũng đã lấy cái thô, cái mộc để tô đậm cái oai phong cái dữ dằn của người lính Tây Tiến.

 Và sự dữ dằn ấy còn được thể hiện qua ánh mắt :

+“Mắt trừng”. Đó là ánh mắt giận dữ, dữ dội, nẩy lửa đầy áp đảo đối với kẻ thù.

Như vậy chỉ với mấy câu thơ, tác giả đã chạm khắc vào lịch sử hình ảnh đoàn quân phi thường độc đáo có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca.

*/  Không chỉ có sức mạnh phi thường các anh còn có đời sống nội tâm phong phú : hào hoa mơ mộng :

+ Họ không phải là những người khổng lồ không tim. Nên họ cũng có những mộng mơ thật đẹp : “mộng qua biên giới” : mộng tiêu diệt kẻ thù bảo vệ biên cương, mộng lập nên chiến công nêu cao truyền thống anh hùng.

+ Còn mơ, họ “Mơ về Hà Nội dáng kiều thơm”.→Mơ tới những tà áo trắng những thiếu nữ thân quen nơi trường xưa phố cũ.

Chiến sĩ Tây Tiến vốn là các sinh siên Hà thành xếp bút nghiên theo việc cung kiếm, giàu lòng yêu nước nhưng cũng rất độ hào hoa Trong trái tim mỗi người ra trận, làm sao có thể quên được những hàng me hàng sấu. Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thân quen.

→Đó là vầng những sáng lung linh trong trái tim người lính trẻ Và chính vầng sáng lung linh ấy  đã tạo nên sự cân bằng thư thái trong tâm hồn họ sau mỗi chặng đường hành binh vất vả. Nó không làm thối chí nản lòng các anh mà ngược lại nó như làm tăng thêm sức mạnh, tăng thêm nhiệt tình cách mạng.

Sự phi thường, nét hào hoa thơ mộng của người lính Tây Tiến không chỉ được thể hiện lúc họ sống và chiến đấu,. Mà nó còn được thể hiện tập trung sâu đậm qua

(c/) sự hi sinh hào hùng của họ

                                          Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                           Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

_Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Mới đọc qua, ta tưởng như câu thơ chỉ làm nhiệm vụ thông báo bình thường nhưng nólại có sức gợi tả thật lớn lao .

+ Từ “rải rác” không những không gợi được sự thưa thớt ít ỏi vốn có của nó mà lại gợi cho người đọc cảm giác nhiều, nhiều vô kể.( rải rác – biên cương – mồ – viễn xứ à gợi ra cảm giác dài  xa xôi hoang vắng )

+ “Mồ viễn xứ”: những ngôi mộ xa xứ. Đồng nghĩa với những ngôi mộ vô chủ không ai hương khói.Cụm từ ấy như xoáy sâu vào lòng người một sự nhức nhối xót xa đến trào nước mắt.

Những nấm mồ không tên, những cái chết vô danh vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương xa xôi hoang vắng đến ghê người. Không một giọt nước mắt mẹ già, người thân. Không một lời vĩnh biệt. Thời gian sẽ qua đi, tất cả sẽ xoá nhoà vào lòng đất. Câu thơ  mang âm điệu trầm hùng bi tráng phơi bày hiện thực phũ phàng, đưa người ta đến vực thẳm của sự bi quan.

Nhưng mỗi lần như thế, Quang Dũng lại được nâng đỡ bởi đôi cánh của lý tưởng của tinh thần lãng mạn. Chính vì thế mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi kia như bị mờ đi trước lý tưởng quên mình vì tổ quốc của người lính Tây Tiến.

_ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

+ Đời xanh là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng.

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh : Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn . Dường như cái chết đã được đặt ra từ trước, họ đâu có băn khoăn trước sự mất còn. Cái chết với họ nhẹ tựa lông hồng.

→Câu thơ không bi quan uỷ mị mà nó vang lên như một lời thề thiêng liêng cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc theo tinh thần thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính vì thế mà họ bất chấp tất cả gian khổ hi sinh để ra đi chiến đấu một cách kiêu hùng

 Các tráng sĩ giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Còn các chiến sĩ Tây Tiến chỉ có chiếc áo rách vai mà các anh gọi là

Áo bào thay chiếu anh về đất

 Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

 

+  Áo bào :Thực ra đó cũng chỉ là cách nói sang trọng, một cái cười gượng gạo trên môi nhà thơ trước một thực tế quá trần trụi đau buốt tâm can : Họ hy sinh mà không một manh chiếu che thân.

+ Anh về đất là các anh đã chết, đã hy sinh.

Chiến đấu giết giặc vì quê hương đất nước, các anh ngã xuống là các anh về đất, là nằm trong lòng đất mẹ Tổ quốc thân yêu. Anh về đất là các anh đã thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình, các anh hoá thân cho dáng hình xứ sở. Anh về đất nghĩa là hồn các anh đã hoà vào cây cỏ, sông núi để trở thành hồn thiêng đất nước.

→Diễn tả về sự mất mát lớn lao mà Quang Dũng nói thật nhẹ nhàng, thật thanh thản. Nhà thơ không dùng từ chết hay hy sinh mà là “về đất” để ca ngợi, để làm bình thường hoá vấn đề và tạo nên vẻ đẹp lãng mạn mang tính chất bi hùng.

_ Và người lính Tây Tiến ra đi cũng không cần một lời điếu văn, một giọt nước mắt. Mà chỉ có trời đất chứng giám, thu nhận thể xác linh hồn họ vào lòng. “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

+ Động từ “gầm” dội xuống mạnh mẽ tạo nên âm trầm vang như tiếng đạn đại bác tiễn đưa linh hồn người đã khuất về cõi vĩnh hằng, như tiếng kèn đồng trong bài chiêu hồn tử sĩ.

Sông Mã gầm lên như một nghi lễ trang trọng tiễn biệt các anh. Các anh vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Nhưng dòng sông Mã còn mãi cuồn cuộn chảy về xuôi mang theo truyền thuyết về những người con đất Việt anh hùng.

III/ Kết luận :

Với cái nhìn nhiều chiều, bằng sự chọn lọc ngôn từ, tinh chọn những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể bất tử về người lính vô danh. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài đó, chúng hoà quện vào nhau, nương tựa nâng đỡ cho nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng, thần thái chung của bức tượng đài.

                                                      BÀI VIÊT BẮC CỦA TỐ HỮU

ĐỀ 6/ PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU:

     “ Mình về mình có nhớ ta                     Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.          Ve kêu rừng phách đổ vàng

      Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi          Nhớ cô em gái hái măng một mình

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.           Rừng thu trăng rọi hòa bình

      Ngày xuân mơ nở trắng rừng          Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

                                  (Trích Việt Bắc – Tố Hữu )

→Đoạn thơ trên lời của người đi đối với kẻ ở ; của cán bộ miền xuôi với người Việt Bắc. Và cũng qua đoạn thơ trên, tỏc giả dó làm nổi bật vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc qua nỗi nhớ tha thiết sâu nặng(bức tranh tứ bình

I/ Mở bài : 

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

_ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung. Trong đó đoạn thơ:      “ Mình về mình có nhớ ta 

                     …….   

                      Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

đã phản ánh sinh động vẻ đẹp của thiên nhien và con người Việt Bắc qua nỗi nhơ da diết cồn cào của tác giả

II/ Thân bài            

1/ (Xuất xứ chủ đề) Bài thơ được làm vào tháng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này.

 2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước) Cả bài thơ tràn ngập nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong kẻ ở và người đi trong câu hỏi và trong cả lời đáp. Nỗi nhớ cứ trở đi trở lại cồn cào da diết. Dường như thấu hiểu nỗi lũng người ở lại, người ra đi không chỉ khẳng định long chung thủy mà cũn thể hiện nỗi nhơ da diết qua thiên nhiên và con người Việt Bắc

3/ ( Phan tích chi tiết)

a/ Bao trùm đoạn thơ là nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến.

_ Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối của đoạn thông qua điệp từ nhớ.

_ Đặc biệt cụm từ “ta về” được láy lại hai lần ở đầu câu như khơi gợi, như nhắc khéo: mình có nhớ ta không. Riêng ta, ta vẫn nhớ người lắm.

_ Cách xưng hô Mình – ta thân thiết, ngọt ngào dễ thương à cuộc chia tay giữa cán bộ kháng chiến với người Việt Bắc, giữa miền xuôi và miền ngược đã trở thành cuộc giã bạn đầy lưu luyến.

b/ Nhưng có lẽ lắng đọng nhất trong nỗi nhớ, trong hoài niệm của tác giả đó là hoa và người: thiên nhiên và con người Việt Bắc.

*/ Thiên nhiên.

–         Bốn mùa đất nước hiện lên với những nét độc đáo, những hương vị riêng

+ Mùa Đông: rừng xanh biếc – bông chuối đỏ tươi – ánh nắng vàng rực rỡ.

+ Mùa Xuân: khu rừng bừng sáng bởi màu trắng tinh khiết của hoa mơ.

+ Hè về: ve kêu – rừng phách đổ vàng.

+ Thu đến: thiên nhiên được thắp sáng bởi màu vàng dịu của ánh trăng.

è Bằng những hình ảnh, những chi tiết chọn lọc, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên với những màu sắc chói lọi rực rỡ xanh, đỏ, vàng, trắng. Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan người đọc, khiến ta có cảm giác như đang được chiêm ngưỡng một bức tranh thiên nhiên sống động của núi rừng Việt Bắc.

–         Thiên nhiên ấy còn được miêu tả theo chiều dọc của thời gian.

+ Buổi sáng: mơ nở trắng rừng.

+ Buổi trưa: ánh nắng vàng rực rỡ.

+ Khi về đêm trăng rọi bàng bạc khắp nơi.

è Núi rừng Việt Bắc như một sinh thể đang biến đỏi trong từng khoảnh khắc.

*/ Phong cảnh tuyệt vời, đáng yêu ấy càng trở nên hài hoà sinh động hẳn lên khi xuất hiện con người.

–         Mỗi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người à cảnh và người đan xen hài hoà, con người là đoá hoa đẹp nhất có hương thơm ngọt ngào.

–         Con người gắn với công việc lao động

+ Kẻ dao gài thắt lưng      

+ Người đan nón 

+ Cô em gái hái măng một mình và tiếng hát của ai đó vang lên giữa rừng núi xôn xao.

_ Họ là những con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời à hình ảnh con người là nét đẹp chủ đạo của bức tranh Việt Bắc, chính họ đã thắp sáng thiên nhiên làm thiên nhiên thêm rực rỡ chính họ đã gợi lên được nỗi nhớ da diết cho người ra đi.

→ ta cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn con người Việt Bắc,

→  Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, Tố Hữu thể hiện một tình cảm thiết tha ân tình sâu nặng và…

III/ Kết luận

 

ĐỀ 7/ PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ SAU:

      “ Những đường Việt Bắc của ta                   Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đêm đêm rầm rập như là đất rung               Đèn pha bật sang như ngày mai lên”

       Quân đi điệp điệp trùng trùng                    Tin vui chiến thắng trăm miền

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan            Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

       Dân công đỏ đuốc từng đoàn                      Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay            Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng

                                    (Trớch Việt Bắc – Tố Hữu )

→Nhà thơ nhớ đến những nẻo đường Việt Bắc, những nẻo đường hành quân chiến dịch.

I/ Mở bài

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. _ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu núi riêng và thơ ca chống Pháp núi chung. Trong đó để lị ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc có lẽ là đoạn thơ Việt Bắc ra trận chiến đấu và chiến thắng      “ Những đường Việt Bắc của ta 

                     …….   

                      Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng”

II/ Thân bài            

1/ (Xuất xứ chủ đề)

Bài thơ được làm vào thỏng 10.1954, khi TW Đảng và Chớnh phủ cựng cỏn bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này.

 2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước)

Nếu như ở những đoạn thơ trước, Tố Hữu mang đến cho người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, của tình nghĩa quân dân qua những kỷ niệm ngọt ngào gắn bó. Thì ở đoạn thơ này, nhà thơ đó đột ngột chuyển hướng. Không còn những dòng thơ ngọt ngào như ca dao nữa mà nó đó mang âm hưởng của cảm hứng sử thi hào hùng : Một Việt Bắc ra trận, một dân tộc ra trận quyết chiến và quyết thắng

3/ ( Phân tích chi tiết)

a/ Việt bắc ra trận với  hào khí của bốn nghỡn năm lịch sử

Những đường Việt Bắc của ta

                                 Đêm đêm rầm rập như là đất rung.

_ Đêm đêm – rầm rậpè những từ láy kết hợp với hình ảnh so sánh cường điệu như là đất rung èkhông chỉ gợi ra không gian, thời gian của cuộc kháng chiến mà nó còn gợi ra thật hay, thật hào hùng âm vang, sức mạnh của  cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩa 4000 năm của dân tộc.

Ấn tượng về sức mạnh của dân tộc cũn được gợi ra từ hình ảnh

_ “Những đường Việt Bắc của ta” →Hình ảnh thơ vừa mang ý nghĩa ta thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát: con đường đi lên kháng chiến và cách mạng, con đường dẫn tới thành công

Hình ảnh một đất nước trong kháng chiến, bỗng trở nên rực sáng và hào hùng hơn bởi

b/ những đoàn quân ra trận:

                                               Quân đi điệp điệp trùng trùng

                                          ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

_ Điệp điệp trùng trùng

Bộ đội ta trang bị vật chất còn thiếu thốn,, còn phải đội mũ nan đan bằng tre lợp vải nhưng đoàn quân điệp điệp trùng trùng chính là hình ảnh tượng trưng cho sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến

→Từ láy gợi sự đông đảo, người người lớp lớp như sóng cuộn tạo sức mạnh vô địch          

_ánh sao đầu súng    →     Hình ảnh thơ vừa thực vừa lãng mạn  

Có thể là ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép. Có thể là ánh sao của bầu trời Việt Bắc, cũng có thể ánh sao của lý tưởng chiến đấu vì độc lập tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận của anh bộ đội.

Tham gia vào cuộc kháng chiến, bên cạnh đội quân chủ lực còn có một bộ phận không thể thiếu, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng hào hùng của dân tộc ta, đó là

c/ Hình ảnh đoàn dân công phục vụ tiền tuyến :

        Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Buớc chân nát đá muôn tàn lửa bay

Những bó đuốc đỏ rực soi đường đã làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn. Ta có thể hình ở đó có đủ cả già trẻ trai gái, họ đến từ nhiều miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở gồng gánh, quyết tâm kiên cường vượt núi cao đèo dốc, đảm bảo sức mạnh vật chất cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng. Nên hình ảnh

_ Dân công đỏ đuốc  è tả thực, ngày là của giặc, đêm là của ta

_ Muôn tàn lửa bay  è Hình ảnh thơ thật đẹp, thật lãng mạn. Họ đi kháng chiến chẳng khác gì đi trong đêm hội hoa đăng .

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, là cuộc chiến tranh nhân dân, nó phát huy cao độ sức mạnh của cả dân tộc chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa :

_ Bước chân nát đá  è Mang âm hưởng ca dao, đó là bước chân của những con người  đạp bằng mọi chông gai để đi tới è   Âm hưởng sử thi

Ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng chiến thắng giòn giã. Những ngày đầu chỉ có vũ khí thô sơ, sau lực lượng ta càng thêm hùng hậu, phát triển thành những những binh đoàn, có pháo binh, có đoàn xe ra tiền tuyến.

d/ Hình ảnh đoàn xe ra hoả tuyến

                                       Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

                             Đèn  pha  bật  sáng  như  ngày  mai  lên.

_ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày  → Đó là những ngày đen tối, những khó khăn thiếu thốn của cách mạng và kháng chiến.

_ Đèn pha è đèn của đoàn xe kéo pháo của đoàn xe vận tải bật sáng phá tan những lớp sương mù, đẩy lùi những khó khăn tăm tối

_ Như ngày mai lên è bình minh chiến thắng.

Hai câu thơ tạo ra → tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng : Nếu câu trên khắc hoạ bóng đêm đen tối thăm thẳm gợi kiếp sống nô lệ của cả dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù thì câu dưới lại bừng lên ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng è để nêu bật xu thế chiến thắng tất yếu của dân tộc ta trước mọi kẻ thù hắc ám. Đồng thời khẳng định những ngày tươi sáng hạnh phúc  nhất định sẽ tới với dân tộc chúng ta

→Hình ảnh thơ vừa mang đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn, vừa có ý nghĩa tả thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng cho một tương lai tươi sáng của đất nước. Con đường Việt Bắc, con đường ra trận đầy máu lửa và chiến công cũng là con đường đi tới ngày mai huy hoàng.…..

e/    Bốn câu thơ cuối khép lại bằng niềm vui chiến thắng :

“Tin vui chiến thắng trăm miền …  Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Tố Hữu sử dụng bốn câu thơ để miêu tả không khí chiến thắng đang dồn dập trên khắp đất nước. Cũng là một thủ pháp liệt kê nhưng những địa danh ở đây không gắn với chữ “nhớ” như ở những dũng thơ mở đầu của đoạn mà gắn với những chữ “vui” để thấy tin vui đang như bay lên từ khắp trăm miền. Kết cấu của bốn câu thơ này cũng là một kết cấu khá chặt chẽ. Câu một là cảm xúc bao quát: “Tin vui chiến thắng trăm miền”, cũn ở cõu sau nhằm thể hiện sự lan toả của những tin vui khắp trăm miền ấy. Vỡ thế những địa danh liên tiếp xuất hiện gắn liền với các tin vui chiến thắng. Sự liệt kê các địa danh chiến thắng cũng chứa đựng những giá trị tư tưởng-nghệ thuật. Đó là sự sắp xếp nhằm làm nổi bật tin vui như bay đi trong một tốc độ “siêu tốc”. Vừa mới đó là Hòa Bình – Tây Bắc – Điện Biên, tiếp sau đó là Đồng Tháp (Nam Bộ), An Khê (Tây Nguyên), lại đó là Việt Bắc, đèo De núi Hồng.

III/ Kết luận      

Tóm lại, đoạn thơ đó rất thành công khi thể hiện một Việt Băc, một dân tộc ra trân, chiến đấu và chiến thắng niềm trong những ngày kháng chiến chống thực dân pháp gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng.  Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện: thể thơ lục bát truyền thống; ngôn ngữ sử thi hào hùng; hinh ảnh thơ giàu sức sống; nhịp thơ dồn dập, nhiều điệp từ, điệp ngữ… tất cả đó tạo nên một đoạn thơ hùng tráng về những ngày sục sôi đánh pháp. Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi mà sức sống mãnh liệt của thời đại ấy vẫn cũn rực lửa trong trái tim mỗi con người Việt Nam.

ĐÊ 8/ VIỆT BẮC TIÊU BIỂU CHO GIỌNG THƠ TÂM TÌNH NGỌT NGÀO, THA THIẾT VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN GIÀU TÍNH DÂN TỘC CỦA THƠ TỐ HỮU. CHỨNG MINH QUA ĐOẠN TRÍCH VIỆT BẮC

1.     Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết.

  • Nói đến tình nghĩa cách mạng nhưng thi sĩ lại dùng giọng của tình thương, lời của ngọt ngào.

–         Bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên.

–         Lối xưng hô mình –  ta – kẻ đi người ở quấn quít bên nhau tuy hai mà một ® để bộc lộ đầy đủ tâm trạng ® tạo sự hô ứng đồng vọng.

  • Giọng thơ tâm tình ngọt ngào ấy tạo nên âm hưởng trữ tình sâu đậm của khúc hát ân tình cách mạng (những câu hỏi mở đầu của lời đối đáp như nhắn nhủ dãi bày): Mình về mình có nhớ ta, Mình đi có nhớ những ngày, Mình về rừng núi nhớ ai, Ta đi ta nhớ những ngày, Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi.

Có những nỗi nhớ da diết, sâu nặng:

     Nhớ gì như nhớ người yêu…bắp ngô.

2.     Nghệ thuật biểu hiện tính dân tộc.

  • Thể thơ: sử dụng thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, có sự biến hoá sáng tạo cho phù hợp với nội dung.

–         Có câu thiết tha sâu lắng: bốn câu mở đầu.

–         Có câu nhẹ nhàng thơ mộng: Nhớ gì như nhớ người yêu…bắp ngô.

–         Có đoạn hùng tráng như một khúc anh hùng ca: Những đường Việt Bắc…mai lên.

  • Hình ảnh thơ:

–         Sử dụng một cách tự nhiên và sáng tạo.

+ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ® Uống nước nhớ nguồn.

+ Bước chân nát đá… ® Trông cho chân cứng đá mềm.

–         Có hình ảnh được chắt lọc từ cuộc sống thực, cũng mang đậm tính dân tộc.

+ Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.

+ Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.

+ Thương nhau…đắp cùng.

  • Ngôn ngữ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhất trong cặp đại từ nhân xưng mình – ta và đại từ phiếm chỉ “ai”.

ĐỀ 9/ PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ SAU: 

    Mình đi có nhớ những ngày                        Mình đi, có nhớ những nhà

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù   Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

    Mình về, có nhớ chiến khu                          Mình về, có nhớ núi non

M/ cơm chấm muối, mối thự nặng vai ?      Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

    Mình về, rừng núi nhớ ai                             Mình đi, mình có nhớ mình

Trám bùi để rụng, m/mai để già.              Tõn Trào, Hồng Thái, mỏi đình, cây đa    

→                          Người ở lại  đã khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm :

I/ Mở bài

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. _ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu núi riêng và thơ ca chống Pháp núi chung. Trong đó để ạiị ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc có lẽ là đoạn thơ người Việt Bắc khơi dậy một quá vãng đầy kỉ niệm

                                          “ Mình đi có nhớ những ngày 

                                                       …….   

                                      Tân Trào hồng Thái mái đỡnh cõy đa”

II/ Thân bài            

1/ (Xuất xứ chủ đề) Bài thơ được làm vào tháng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này.

2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước) Nếu như ở những đoạn thơ trước, Người ra đi bâng khuâng bồn chồn, cầm tay nhau bịn rịn luyến lưu mà chẳng nói lên lời. Thì ở đoạn thơ này, người ở lại đã khơi dạy một quá vãng đầy kỉ niệm, nhằm một lần nữa khẳng định lòng chung thủy của mình.

3/ ( Phân tớch chi tiết)

cặp từ nhân xưng “mình – ta” được sử dụng sáng tạo và độc đáo thật phù hợp, thân thiết mà không sỗ sàng; kín đáo mà không xa vời tạo nên âm hưởng ngọt ngào tha thiết.. Nhưng

_ ta lúc này cũng được chuyển hóa thành mình “Mình đi mình lại nhớ mình”

→ Nhằm diễn tả tỉnh cảm gắn bó keo sơn tuy 2 mà là một, khăng khít không rời

Đó là tấm lòng của người ở lại. Còn người ra đi thì sao ?

–         Mười hai câu thơ tạo thành 6 câu hỏi

+ Có câu hỏi gợi nhớ hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt:

                      Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù.

+ Có câu hỏi gợi nhớ tới cảnh sinh hoạt thiếu thốn:

                     Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai.

+ Có câu hỏi lại như hỏi chính lòng mình:

 Mình về rừng núi nhớ ai

 Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Rừng núi nhớ hay đồng bào Việt Bắc nhớ. Và khi “ai” đó đi rồi thì trám bùi, măng mai còn có ý nghĩa gì nữa đây.

èBiện pháp nhân hoá kết hợp với đại từ phiếm chỉ ai càng tô đậm cảm giác cô đơn, trống vắng của kẻ ở khi phải chia tay.

 Và

+ Có câu hỏi lại gợi về những kỷ niệm của một thời cách mạng, một thời kháng chiến:                            Mình về có nhớ núi non

                        Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

                             Mình đi, mình có nhớ mình

                      Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa

Điều đáng lưu ý là trong một đoạn thơ ngắn mà 5 từ

Nhớ  được nhấn đi nhấn lại è Điệp từ thể hiện nỗi lòng tha thiết với những sắc thái khác nhau của người ở lại

Khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm : cay đắng ngọt bùi, gian nan vất vả, người ở lại muốn khẳng định với người ra đi một điều :

→Nét đẹp cao quý của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cực mà chân tình rộng mở, sắt son thuỷ chung với cách mạng, người cũng vậy mà thiên nhiên cũng vậy. Và đoạn thơ đã thể hiện được điều đó 

III/ Kết luận ….

     BÀI DÀN GHI TA CỦA LORCA ( THANH THẢO)

ĐÊ 10/ Cảm nhận của anh (chị) khi đọc đoạn thơ sau :

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Gợi ý phần thân bài

*/ Nếu những đoạn thơ trên Thanh Thảo dựng lên chân dung của nhà cách tân nghệ thuật, người chiến sĩ đấu tranh cho khát vọng tự do cùng cái chết bi tráng của Lorca, thì những câu thơ sau lại là Nỗi tiếc thương và niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tiếng đàn lorca

“không ai chôn cất tiếng đàn …long lanh trong đáy giếng”

Đối với lòng tiếc thương, mọi cái chết đều ngang trái. Cái chết của Lorca càng ngang trái bội phần. Vì ông bị phatxit giết hại khi mới 37 tuổi, xác ông còn bị chúng quẳng xuống một cái giếng để phi tang. Và Thanh Thảo đã chọn thời điểm bi phẫn nhất của cuộc đời Lorca cho cảm hứng của thi phẩm, lấy lời di chúc của Lor-ca “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” làm đề từ cho bài thơ của mình. Đây chính là di ngôn đầy tâm huyết của người nghệ sĩ chân chính. Lor-ca không muốn nghệ thuật của mình vì được công chúng yêu mến đưa lên đài danh dự, rồi vô tình sẽ trở thành một vật cản trên con đường sáng tạo không có giới hạn đối với thế hệ sau. Nhưng

_ không ai chôn cất tiếng đàn

→ Câu thơ có lẽ đã được bật ra trong tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lor-ca

→ Không ai hiểu, không ai làm theo di nguyện của Lorca , ý nguyện của Lor-ca – một ý nguyện thể hiện chất nghệ sĩ bẩm sinh hoàn hảo của nhà thơ,

→ nói lên sự gắn bó vô cùng sâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở – đã không được thực hiện. Nhưng nghĩ sâu về điều đó, ta bỗng vỡ ra một chân lí : không ai chôn cất tiếng đàn và dù muốn chôn cũng không được ! Vì đó là tiếng đàn, một giá trị tinh thần, chứ không phải là một cây đàn vật thể.

→ Tiếng đàn ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên. Nó vẫn không ngừng vươn lên, lan toả, ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã chết. Thật sự thấm thía chân lí nói trên, nhưng tác giả vẫn không ngăn nổi lòng mình : nuối tiếc, họ xót thương cho cái chết của thiên tài và những cách tân nghệ thuật còn dang dở.

Những câu thơ được viết ra thấm đẫm, cảm giác xa vắng, bơ vơ, côi cút, giữa mênh mang trong cõi trời đất. Lorca mất đi, để lại một khoảng trống quá lớn cho nhân dân Tây ban Nha đang đấu tranh vì tự do công lí, cho nền nghệ thuật Tây Ban Nha đang trên con đường cách tân.

Mất lorca

_ “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”

→ so sánh để nhấn mạnh vị trí vai trò của thiên tài Lorca, àkhi người nhạc trưởng mất đi, bản giao hưởng nghệ thuật Tây Ban Nha sẽ loạn nhịp.

Và cũng chính vì thế

_ không ai chôn cất tiếng đàn – tiếng đàn như cỏ mọc hoang àBằng hình ảnh so sánh Thanh Thảo muốn người đọc cảm nhận về sức lan toả của Lorca, sự sống mãnh liệt của nghệ thuật Lorca không gì có thể hủy hoại được.

Sức sống mãnh liệt ấy cùng lòng xót thương của nhân dân được thể hiên tập trung qua hình ảnh thơ

_ giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

→ Câu thơ được viết theo lối “nghệ thuật sắp đặt”, giữa chúng chẳng có một quan hệ từ nào. Vì thế, ta có thể hiểu theo nhiều kiểu quan hệ, tạo ra nhiều làn nghĩa : 1) quan hệ đẳng lập : giọt nước mắt (và) vầng trăng ; 2) quan hệ song song : giọt nước mắt (với) vầng trăng ; 3) quan hệ so sánh : giọt nước mắt (như) vầng trăng ; 4) quan hệ sở hữu : giọt nước mắt (của) vầng trăng ; 5) quan hệ đồng nhất : giọt nước mắt (là) vầng trăng… Người đọc có một thoáng phân vân : vậy ý thực của câu thơ sẽ theo nghĩa nào ? Nhưng thoáng ấy sẽ qua nhanh bởi chỉ có câu trả lời duy nhất : ànó phải là sự giao thoa và lung linh của tất cả các làn nghĩa ấy, nó tạo ra những liên tưởng có tính hiệu ứng dây chuyền.

Giọt nước mắt tiếc thương của những người mến mộ dành cho Lor-ca như vầng trăng soi vào đáy giếng, lung linh, lan toả từ người này sang người khác, từ đất nước Tây Ban Nha lan ra cả nhân loại tiến bộ, và cả sự cộng hưởng tình cảm ở đông đảo bạn đọc Việt Nam. Nói cách khác

→ hình ảnh thơ tượng trưng siêu thực đa nghĩa khẳng định sự tỏa sáng trường tồn và bất diệt của thiên tài Lorca.

còn tiếp

→ Câu thơ được viết theo lối “nghệ thuật sắp đặt”, giữa chúng chẳng có một quan hệ từ nào

Mời bạn tham khảo

ĐỀ 11 / Phân tích hình tượn Lorca

Đất nước Tây Ban Nha xinh đẹp với những trận đấu bò rực lửa, với tiếng ghi ta say lòng đã đi vào trong thơ của Garcia Lorca, nhà thơ nhân dân, người chiến sĩ chống phát xít. Sự hy sinh anh dũng của ông trước họng súng của bọn phát xít Franco đã để lại nhiều tiếc thương cho nhân dân Tây Ban Nha. Sức ám ảnh của những bài thơ đầy chất lãng tử của người nghệ sĩ Tây Ban Nha ấy đã gặp gỡ với hồn thơ Thanh Thảo làm nên bài thơ độc đáo Đàn ghi ta của Lorca trong tập thơ Khối vuông rubic. Viết về một nhà thơ hiện đại, một người con của đất nước Tây Ban Nha, Thanh Thảo đã dựng nên một chân dung bằng thơ sống động. Và mở đầu bài thơ là

*/Không gian của bức chân dung

với những biểu tượng đặc trưng của văn hóa xứ sở những trận đấu bò, hiện hữu tất cả chất cuồng say của người nghệ sĩ:

những tiếng đàn bọt nước

Tây ban Nha áo choàng đỏ gắt

Thanh Thảo chọn hai hình ảnh này khởi đầu một thi phẩm giống như kiểu tạo những âm chủ cho một nhạc phẩm. Chúng là  những tương phản kín đáo mà gay gắt : âm thanh hồn nhiên – sắc màu chói gắt, tiếng đàn thảo dân – áo choàng đấu sĩ, vẻ khiêm nhường – sự ngạo nghễ, niềm hân hoan – nỗi kinh hoàng, nghệ thuật – bạo lực, thân phận bọt bèo – thực tại tàn khốc… Cặp hình ảnh tương tranh, đối lập ấy  vừa giúp ta hình dung về một Lorca vừa gợi ta liên tưởng đến khung cảnh của một đấu trường đặc biệt, không phải của một võ sĩ với bò tót mà là cuộc đấu giữa khát vọng dân chủ của công dân Lorca với nền chính trị độc tài, của khát vọng cách tân trong chàng nghệ sĩ Lorca với nền nghệ thuật già nua.

Và trên một nền hiện thực đầy tranh chấp đối chọi ấy, nổi lên

*/ Chân dung Lorca :

_ đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngưa mỏi mòn

Nội dung chủ đạo mà thi phẩm triển khai sẽ là

–> bức tranh bi tráng về thân phận người nghệ sĩ trong một thời đại biến động như bão táp, là vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật vượt lên trên mọi sự đe doạ của các thế lực bạo tàn, hung hiểm. Ở đó nhìn theo góc độ nào cũng vẫn chỉ thấy

–> hành trình của con người tự do và nhà cách tân nghệ thuật Lorca  thật mong manh và đơn độc

Lorca đi lang thang về miền đơn độc, đi như người mộng du, rôi thả hồn theo tiếng ghi-ta :

Li la li la li la –>chuỗi âm thanh li-la li-la li-la, nó như một chuỗi nốt đàn buông do người đệm đàn (ghi ta) lướt qua hàng dây để kết thúc phần dạo, đánh dấu khoảng ngắt cho người hát chính thức bắt lời trình diễn ca khúc.

Và ca khúc ấy bắt đầu tái hiện

*/ Cái chết đầy bi phẫn của Lorca, khát vọng cách tân đành dang dở

Tây Ban Nha của thời Lorca còn là đất nước sôi sục những cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít , ghi ta của Lorca cất lên lời ca tranh đấu : «Ghi ta bần bật khóc – Không thể nào – dập tắt » (thơ Lorca). Bởi vậy diễn tả khoảnh khắc người chiến sĩ ấy bị bọn phát xít sát hại, Thanh Thảo cũng đã dựng nên bầu

_  Không gian kinh hoàng những ấn tượng chết chóc :

Tây Ban Nha hát nghêu ngao – bỗng kinh hoàng –áo choàng bê bết đỏ-Lorca bị điệu về bãi bắn – chàng đi như người mộng du… Hình ảnh thơ tả thực “áo choàng bê bết đỏ” đã phản ánh

–>Hiện thực phũ phàng, tàn khốc đổ xuống đời Lor-ca.

–>Lời thơ vang lên là một chuỗi tự sự, nhưng cấu trúc lại đứt đoạn như để nhằm diễn tả cuộc đời Lor-ca “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”.

Cái chết bi thảm của Lor-ca là một sự kiện chính trị lớn ở Tây Ban Nha. Nó tạo ra một hiệu ứng dây chuyền, được Thanh Thảo diễn tả theo lối tượng trưng độc đáo: Những câu thơ tiếp nối diễn tả tột cùng cho

_ Cảm giác đau đớn uất nghẹn trước sự tàn bạo của bọn độc tài phát xít :

tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy…

–>Điệp khúc dồn dập qua nhịp thơ Thanh Thảo như đã lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghi ta bi tráng!

Màu nâu của đất, của làn da rám nắng,màu xanh của lá của bầu trời như tương phản gay gắt và dữ dội với màu đỏ ròng ròng máu chảy. Cảm giác vỡ oà đau đớn uất nghẹn trong tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Nỗi kinh hoàng trong cảm giác mất mát cũng nhân lên gấp bội, nỗi đau như xé lòng khi hình dung ra cảnh kẻ thù sát hại người nghệ sĩ tranh đấu cho tự do

–>Lời thơ của Thanh Thảo liên tục chuyển đổi cảm giác mở ra nhiều chiều suy tưởng :

từ tiếng ghi ta nâu vang lên âm thanh ám ảnh , như mang theo khát vọng tự do và tình yêu mà Lor-ca gởi trao đến mọi người, đến An-na Ma-ri-a -người yêu chung thuỷ. “tiếng ghi ta lá xanh biết mấy” sắc màu tượng trưng cho sự sống; nhưng giai điệu ghi ta ấy bỗng đột ngột vỡ tan để rồi kết đọng thành ròng ròng máu chảy. Qua nhịp thơ dồn dập Thanh Thảo như lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghi ta bi tráng, qua cái chết đầy phẫn uất của lorca

“Đàn ghi ta của Lorca là một bài thơ hay của Thanh Thảo, không chỉ đã tạo dựng chân dung người nghệ sĩ – chiến sĩ Garcia Lorca một cách trung thực, mà còn khiến người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp tâm hồn, tính cách đậm chất Tây Ban Nha của Lorca. Bài thơ giàu nhạc điệu, ngỡ như chính tác giả đã để lòng mình đồng điệu với sự sống Lorca trong giờ phút đối mặt với họng súng quân thù”

 BÀI SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

Đề 12 : Anh (chị) có nhận xét gì về kết cấu và âm hưởng của bài thơ

a/ kết cấu bài thơ

Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không vì thế mà nó thành đơn điệu nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu khát khao riêng, không ai giống ai. Ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn mãnh liệt, người tự cho mình là kẻ uống tình yêu dập cả môi. Nguyễn Bính người nhà quê chân thật da diết. Và thật bất ngờ ta gặp nữ sĩ với tâm hồn dạt dào yêu đương Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nhưng không kém phần cháy bỏng nồng say. Điều đó được thể hiện khá rõ trong bài Sóng.

Đầu đề bài thơ là sóng và bài thơ cũng được dệt bằng hình tượng trung tâm ấy.

_ Xuân Quỳnh đã nối tiếp truyền thống trong văn học ta là lấy sóng nước để hình dung để so sánh với sóng tình.

Cách đây mấy trăm năm, thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nhắc đến con sóng khi viết về mối tình Kim – Kiều : “Sóng tình dường đã xiêu xiêu” hoặc “Lạ cho cái sóng khuynh thành”. Và hơn một lần Xuân Diệu cũng đã có câu thơ về sóng “Dâng cả tình yêu lên sóng mắt”. Hay “Anh xin làm sóng biếc, Hôn cát mãi vàng em”. Như vậy:Xuân Quỳnh mượn hình tượng sóng để diễn ta những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú phức tạp vừa tha thiết sôi nổi của trái tim đang rạo rực khát khao yêu đương. Nói cách khác :

_ Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu là sự phân thân, hoá thân của cái tôi trữ tình, một kiểu đặc biệt của cái tôi trữ tình nhập vai.

Cùng với hình tượng sóng còn có một hình tượng nữa , đó là

_ Em cũng là cái tôi trữ tình của nhà thơ

→Hai nhân vật trữ tình ( sóng và em ) tuy hai mà là một, có lúc hoà nhập vào nhau để tạo nên sự âm vang cộng hưởng, có lúc lại phân đôi ra để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng.

+ ở khổ 1 sóng được nhân cách hoá “Sóng tìm ra tận bể”. Sang

+ Khổ 2 : Sóng là hình ảnh ẩn dụ là hiện thân của khát vọng tình yêu bồi hồi trong ngực trẻ. Qua

+ Khổ 3, 4 : Sóng trở thành hiện thân của tình yêu Em và Anh. Sóng và Em đan xen nhau. Đến

+ Khổ 5 : Thêm hình ảnh cuả bờ để bổ sung cho hình tượng sóng, hình tượng hoá nỗi nhớ người yêu. Khổ này được cấu tạo đặc biệt gồm 6 câu . Đó cũng là lời tự bạch của em, của trái tim khát khao tình yêu. Nếu

+ Khổ 6 chỉ nói về em thì

+ Khổ 7 lại chỉ nói về sóng

→Nghệ thuật kết cấu đan xen như vậy tạo nên sự so sánh ngầm, hình thức ẩn dụ : Sóng giống như Em, Em cũng như Sóng. Đến

+ Khổ cuối sự so sánh ngầm này trở thành ước muốn hoá thân : Em muốn hoá thân thành sóng. Như vậy

→hai hình tượng này đan cài quấn quít với nhau như hình với bóng, song song tồn tại từ đầu đến cuối bài thơ, soi sáng bổ sung cho nhau, nhằm diễn tả một cách mãnh liệt hơn, sâu sắc và thấm thia khát vọng tình yêu đang cuồn cuộn dâng trong trái tim nữ sĩ.

b/ Âm hưởng

Hình tượng sóng là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh. Tình tượng này trước hết được gợi ra từ âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng của thể thơ.

_ Thơ 5 chữ cùng với những câu thơ thường không ngắt nhịp đã tạo nên nhịp điệu của những con sóng biển  liên tiếp triền miên vô hồi vô hạn, lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm chạy suốt bài thơ.

Song âm hưởng chung của bài thơ không đơn giản chỉ là âm điệu của những con sóng biển. Mà

_ Đó còn là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập khao khát tình yêu vô hạn đang rung lên đồng điệu với sóng biển

Chúng hoà hợp với nhau đến mức ta không còn phân biệt được đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn thi sĩ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng biển để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu không chịu yên định mà đầy biến động khát khao.

→Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể, vừa sinh động, những cung bậc  tâm hồn, tình cảm khác nhau trong tim người phụ nữ đang rạo rực yêu đương.

Mỗi cung bậc tâm hồn cụ thể của người con gái đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng.

ĐỀ 13 / Phân tích hình tượng  sóng ( Sóng của Xuân Quỳnh )

I/ Mở bài 

Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không vì thế mà nó thành đơn điệu nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu khát khao riêng, không ai giống ai. Ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn mãnh liệt, người tự cho mình là kẻ uống tình yêu dập cả môi. Nguyễn Bính người nhà quê chân thật da diết. Và thật bất ngờ ta gặp nữ sĩ với tâm hồn dạt dào yêu đương Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nhưng không kém phần cháy bỏng nồng say. Điều đó được thể hiện khá rõ trong bài Sóng.

Đầu đề bài thơ là sóng và bài thơ cũng được dệt bằng hình tượng trung tâm ấy.

Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh đưa người đọc bước vào thế giới của sóng, nhịp điệu của biển cả :

         Dữ dội và dịu êm               Sông không hiểu nổi mình

         ồn ào và lặng lẽ                 Sóng tìm ra tận bể       

   Bắt đầu là sóng nước. Đúng là như vậy. Không kể là ở sông hay bể, lúc cồn lên thì sóng dữ dội ồn ào, có thể làm lật thuyền, đắm tàu. Nhưng lúc trời yên biển lặng, thì nó lại dịu êm lặng lẽ. Nhưng dù

_ Dữ dội và dịu êm, ồn cao và lặng lẽ  thì cũng là à Sóng

Dữ dội đấy nhưng cũng dịu êm đấy. Chợt ồn rồi chợt lặng. Đó là đặc tính của sóng. Sóng vốn là một trạng thái động, một vật thể tự nhiên luôn chứa đựng những mâu thuẫn, những đối cực trong cùng một hiện tượng. Sóng phức tạp về hình thức, khó hiểu về bản chất.

 Sóng luôn luôn biến đổi muôn hình muôn vẻ. Vì sao vậy ?  Đến sóng không hiểu nổi mình, chỉ biết rằng hiện tượng ấy cứ thường xuyên diễn ra . ở khổ đầu, sóng hay chính là người con gái đang yêu, Xuân Quỳnh đã mượn sóng làm biểu tượng cho tình yêu. Sóng được nhân cách hoá . Sự phức tạp về hình thức khó hiểu về bản chất của sóng cũng chính là đặc tính đa dạng khó giải thích của tình yêu :Thoắt vui, thoắt buồn, thoắt cáu giận lại yêu thương.

→Bằng cách nhân hoá kết hợp với nhịp thơ biến hoá linh hoạt, Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể, thật chính xác cái trạng thái khác thường vừa phong phú vừa phức tạp của trái tim đang cồn cào khát khao tình yêu

_ Sông không hiểu nổi mình          

   Sóng tìm ra tận bể

Hành trình từ sông ra bể của sóng là è hành trình từ bỏ cái chật hẹp tù túng để đến với chân trời bao la rộng lớn, nơi vô cùng sâu rộng có trời nước bao la, có nồm nam êm nhẹ nhưng cũng có những bão tố dữ dằn. ở những nơi như thế, may ra sóng mới có thể hiểu nổi mình.

Trái tim người con gái đang yêu cũng như sóng, không chấp nhận sự tầm thường nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình. Nếu trước kia “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” thi bây giờ “Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể”. Thật dứt khoát, thật rõ ràng. èHai câu thơ không chỉ thể hiện khát vọng tìm tòi đến tột độ mà ở đây ta còn thấy một nét mới trong quan niệm tình yêu : Yêu đến khát khao cháy bỏng nhưng không cam chịu, không nhẫn nhục

@/( Khổ 2 : )Sóng là như thế, nhưng sóng có bao giờ mất đi cũng như tình yêu mãi mãi là khát vọng muôn đời của nhân loại :

           Ôi con sóng ngày xưa             Nỗi khát vọng tình yêu

           Và ngày sau vẫn thế               Bồi hồi trong ngực trẻ                                                         

Con sóng ngày xưa thế nào, con sóng ngày sau vẫn thế  :Trường tồn bất biến.

Sóng nước cũng như sóng tình. Bao nhiêu thế hệ đã qua, những cuộc hành trình đau khổ vui sướng, những niềm xót xa cùng hạnh phúc ngập tràn, tất cả đều vì khát vọng tình yêu. Từ thuở hoang sơ đến hiện đại thì  tình yêu vẫn luôn là điểm sáng vĩnh cửu  mà con người luôn vươn tới để sống, chiến đấu, lao động.   Nhà thơ nêu cái qui luật bất di bất dịch của tự nhiên để nhấn mạnh qui luật của tình yêu

Khát vọng tình yêu là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là ở tuổi trẻ. Khát vọng không hoàn toàn đồng nghĩa với ước vọng. ước vọng mới chỉ là ước và mong. Còn khát vọng thì đã là sự đa mê cháy bỏng mãnh liệt không giới hạn. Đó chính là nét đặc trưng của tình yêu. Nhưng nhắc đến tình yêu người ta thường nhắc đến tuổi trẻ :

  _ Bồi hồi trong ngực trẻ . Tình yêu và tuổi trẻ thường đi đôi với nhau, gắn liền với nhau. Như nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói :   Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo, Hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu

ở lứa tuổi mùa xuân của đời người này, tình yêu mới phát triển mạnh mẽ nhất và mang đầy đủ ý nghĩa nhất. Tình yêu tràn đầy cơ sở thanh xuân, làm bồi hồi trái tim trong ngực trẻ khiến trái tim lúc nào cũng thổn thức nhớ mong. Như vậy khát vọng tình yêu gắn liền với ngực trẻ và chỉ có ngực trẻ mới đủ chỗ cho khát vọng tình yêu.                                     

@/ (Khổ 3 – 4   Tình yêu là như vậy, tự nhiên như hơi thở, cần thiết như cơm ăn, nước uống hàng ngày. Ấy thế mà tình yêu là gì mà có sức quyến rũ đến như vậy thì chưa ai giải thích được. Ngay đến Xuân Diệu – một nhà thơ tình nổi tiếng, một con người luôn khát khao giao cảm với đời, say đắm với tình yêu mà cũng bất lực :

          Làm sao cắt nghĩa được tình yêu         Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

          Có nghĩa gì đâu một buổi chiều           Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu                                                           

Làm sao có thể cảnh giác được tình yêu. Nó đến lúc nào ta đâu có biết và nó chiếm hồn ta lúc nào ta đâu có hay. Trước một vấn đề khó lí giải như vậy, em làm sao tránh khỏi sự băn khoăn trăn trở :

              Trước muôn trùng sóng bể               Em nghĩ về biển lớn

              Em nghĩ về anh, em                         Tự nơi nào sóng lên                             

_ Em nghĩ nghiã là em đang thao thức, đang lo lắng, đang đặt ra nhiều câu hỏi.   Điệp từ làm cho câu thơ đằm lại dịu dàng và càng làm rõ hơn sự suy nghĩ trong lòng em. Và như thế nhà thơ có một chút bối rối ưu tư muốn tìm hiểu về anh về em về biển lớn chứ không phải chỉ quen bồng bềnh, quen si mê, chỉ yêu và đơn thuần chỉ là yêu. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không đơn giản, yêu cháy bỏng nồng say nhưng không vì thế mà hời hợt.

Đến đây, nhân vật trữ tình có vẻ không thống nhất. Nếu ở đoạn thơ trên, em còn giấu mình trong lớp sóng ngoài kia thì đến đoạn này dường như nhà thơ không kìm chế nổi tình yêu đang dâng lên dạt dào trong ngực trẻ. Nhân vật trữ tình đã thoát ra khỏi lớp áo ẩn dụ để xưng em

                                Em nghĩ về anh em

                                Em nghĩ về biển lớn

Anh phải chăng là biển lớn, là cuộc đời mênh mông. Em là con sóng dạt dào là biểu tượng cho một tình yêu trỗi dậy. Xuân Quỳnh nghĩ về tình yêu, về anh nhưng vẫn nghĩ đến cuộc đời chung. Đó là điều đáng quí. Nhà thơ nắm bắt được mối liên hệ giữa hạnh phúc riêng và cuộc sống chung của mọi người.

Nếu sóng tìm ra tân bể để tự hiểu mình thì em cũng sẽ tìm đến tình yêu anh để hiểu sâu hơn về con người đích thực của em. Trước không gian bao la của biển cả, làm sao em không trăn trở với những câu hỏi tự ngàn xưa

                           Sóng bắt đầu từ gió

                           Gió bắt đầu từ đâu

Nơi nào là nơi bắt đầu của sóng ? Khó mà trả lời cho chính xác. Song vẫn có thể nói rằng : Sóng bắt đầu từ gió. Có gió thì mới có sóng, tất nhiên là như vậy. Nhưng _ Gió bắt đầu từ đâu. Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm đến nơi khởi nguồn, nơi bắt đầu của sự vật.

Và câu trả lời không phải dễ dàng gì. Nhưng chúng ta nhận được một câu trả lời thật bất ngờ :

_ Em cũng không biết nữa

   Khi nào ta yêu nhau

Một lần nữa Xuân Quỳnh lại trở về cái đề tài muôn thuở : tình yêu là gì ? Và câu trả lời như một cái lắc đầu nhè nhẹ đáng yêu, như một lời nũng nịu ngây thơ hồn nhiên xen chút bất lực. Nhưng chính cái hồn nhiên chân thực ấy làm cho tình yêu trở nên hấp dẫn và người chủ của nó hiện ra duyên dáng đáng yêu biết nhường nào.

Thế là ra tận bể mà sóng vẫn chưa hiểu nổi mình. Em đã hoà nhập vào biển lớn của tình yêu mà nào em đã hiểu em. Em yêu anh từ đâu ? Khi nào ? Từ cái gì ? ánh mắt, nụ cười, giọng nói, hay như ai đó yêu từ sắc ngựa tuyết in, cỏ pha màu áo, rêu phong dấu giày ( Truyện Kiều )

Mọi câu hỏi đặt ra đều tha thiết tìm về cội nguồn của nó. Nhưng em cũng không biết nữa. Mà biết để làm gì. Chỉ cần hiểu rằng : Ta vẫn yêu nhau là đủ. Cái thiêng liêng nhất, tuyệt diệu nhất trong tình yêu là sự giao cảm, hoà hợp sâu xa giữa hai tâm hồn, hai nửa cuộc đời tự nguyện gắn bó với nhau để tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, vĩnh viễn không trước cũng không sau.

@/ (Khổ 5 )Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh gắn liền với nỗi nhớ niềm thương sâu sắc cồn cào mãnh liệt :

                  Con sóng dưới lòng sâu                   Ôi con sóng nhớ bờ

                  Con sóng trên mặt nước                   Ngày đêm không ngủ được

  Trước biển xanh mênh mông muôn trùng sóng vỗ, Xuân Quỳnh phát hiện ra những con sóng cứ vỗ hoài, cả ngày cả đêm không biết mệt mỏi. Dù :

_ Con sóng – trên mặt nước (hay ) – dưới lòng sâu thì cũng đều nhớ bờ. Bờ là nơi đến của sóng, là đối tượng để sóng vuốt ve vỗ về. Bờ là cái đích của sóng, để sóng lúc nào cũng không quên, lúc nào cũng nhớ về. Sự tài tình của tác giả là đã tìm được một ẩn dụ rất khéo léo phù hợp với tâm trạng, diễn tả chính xác nỗi nhớ cồn cào của sóng hay cũng chính là của em

Vắng anh em nhớ, đó là nỗi nhớ trên mặt. Gần anh mà vẫn nhớ, đó là nỗi nhớ dưới lòng sâu.  Đó là nỗi nhớ mênh mông trải rộng trong không gian ( trên – dưới ), trải dài theo thời gian ( ngày – đêm ). Nói cách khác “con sóng dưới lòng sâu, con sóng trên mặt nước” chính là những cung bậc khác nhau của nỗi lòng em nhớ anh.

Nỗi nhớ ấy da diết khắc khoải, thổn thức, khiến nhà thơ không tự làm chủ được mình, một lần nữa tự lột bỏ lớp áo ẩn dụ bên ngoài để trái tim tự thột lên lời :

_ Lòng em nhớ tới anh

   Cả trong mơ còn thức

Câu thơ thật mới lạ ! Trong mơ mà lại còn thức. Đó chính là sự vô lí của cuộc đời nhưng lại là cái nghĩa lí của văn chương  : Cái nhớ không hề chợp mắt.Nó không chịu ngủ, cứ thức hoài, nó len cả vào trong cơn mơ da diết cháy bỏng. Khổ thơ thêm hai câu chính là một cách kết câu đầy dụng ý nhằm nêu bật tình yêu mãnh liệt của em.  Những cặp từ sóng đôi tương ứng bên nhau ( sóng – bờ, trên – dưới, ngày – đêm) tạo âm hưởng hài hoà, nhịp điệu đung đưa như sóng

@/ (Khổ 6 – 7) :Càng đến cuối bài thơ, Xuân Quỳnh càng tỏ ra mình là một người sâu sắc thuỷ chung. Tình yêu của Xuân Quỳnh là tình yêu từ hai phía. ở đây nhân vật trữ tình đã có đối tượng để hướng tới, chứ không vu vơ. Hơn nữa tình cảm, tâm hồn nhân vật trữ tình không bi quan chán nản mà tràn đầy hi vọng :

          Dẫu xuôi về phương Bắc                    Nơi nào em cũng nghĩ

          Dẫu ngược về phương Nam                Hướng về anh một phương

_ Dẫu xuôi – ngược, phương Bắc – phương Nam , Đó là những độ dài cách trở, những gian nan thử thách đối với tình yêu. Nhưng phương hướng khoảng cách đặt ra xa bao nhiêu thì lòng người lại càng thể hiện rõ rệt sự thuỷ chung bấy nhiêu : _ Một phương. Bằng tình yêu, bằng tiếng nói của trái tim,  Xuân Quỳnh đã phát hiện ra một phương thật lạ : phương anh, phương tình yêu Và chính cái mới lạ, cái độc đáo ấy làm cho bài thơ trở nên dễ thương và đậm nữ tính nhưng cũng thật rắn rỏi, mạnh mẽ dứt khoát rõ ràng.

Khổ thơ đặt ra những thử thách, những cách trở nhưng cũng đưa ra những quyết tâm của con người. Tình yêu sẽ chiến thắng tất cả nếu là tình yêu chân thành thuỷ chung.  Điệp khúc dẫu xuôi, dẫu ngược như một sự khẳng định, một lời chung thuỷ ghi lòng tạc dạ.

Dường như để khẳng định thêm cho lời nói của mình, nhà thơ đưa ra một loạt các dẫn chứng về thiên nhiên, tạo vật. Tất cả rồi sẽ chiến thắng nếu có sự kiên nhẫn, có sức mạnh :

                ở ngoài kia đại dương                  Con nào chẳng tới bờ

                Trăm ngàn con sóng đó              Dù muôn vời cách trở                                                        

Sóng muốn về với bờ phải vượt qua giông tố bão bùng. Em muốn hướng về anh phải vượt qua những cạm bẫy của cuộc đời. Tình yêu gắn liền với đời thường. Mà cuộc đời là dâu bể đa đoan. Tất cả những thử thách, những gian nan đang chờ ở phía trước. Và đó là điều không thể thiếu  đối với tình yêu. Em cũng sẽ vượt qua tất cả bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh, tìm thấy hạnh phúc đích thực của đời mình. Cũng như cha ông xưa :

                                       Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

                           Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu đèo cũng qua

    Nhà thơ nêu ra những hiện tượng thiên nhiên để khẳng định  quyết tâm của mình, Quyết tâm ấy thiêng liêng như một lời nguyền vàng đá.

@/ (Khổ 8   Tình yêu được tôi luyện như thế là tình yêu đẹp. Tình yêu cao cả nhưng nó lại là một thứ khó giữ và rất mong manh :

           Cuộc đời tuy dài thế                    Như biển kia dẫu rộng

           Năm tháng vẫn đi qua                Mây vẫn bay về xa                          

Biển mênh mông đấy nhưng biển cũng có bờ. Cuộc đời tuy dài thế nhưng không phải là vô hạn bởi năm thang vẫn di qua, thời gian vẫn trôi chảy.      Một thoáng lo âu, mặc cảm khi nhà thơ ý thức được sự ngắn ngủi của cuộc đời.

Như vậy, ngay cả khi yêu say đắm nhất,    nhà thơ vẫn không hoàn toàn thoát li thực tại.Trong cái nồng say hết mình vẫn thấp thoáng một dự cảm, lo âu không dứt : Liệu tình yêu có vượt qua được những qui luật tất yếu của cuộc đời không ?

@/ (Khổ 9 )Và nỗi lo âu đến khắc khoải đó trở thành nỗi khát khao :

          Làm sao được tan ra                 Giữa biển lớn tình yêu

          Thành trăm con sóng nhỏ          Để ngàn năm còn vỗ                     

  _ làm sao, Đó là niềm mong ước hoá thân.Em muốn tan ra thành những con sóng nhỏ của tình yêu để vỗ mãi ngàn năm trong biển lớn tình yêu.  Cái riêng và cái chung hoà hợp gắn bó vĩnh hằng.            

Niềm mong ước ấy thật hồn hậu. Tình yêu của lứa đôi, hạnh phúc của lứa đôi chan hoà trong tình yêu rộng lớn của đồng loại, của đất nước, của nhân dân. Có thể nói :  lời thơ là lời nguyện cầu của một tâm hồn cao cả trong tình yêu. Sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát khao được sống trọn vẹn, sống hết mình trong hạnh phúc tình yêu

II/ Kết luận

 

 

 

 

 

 

 

 
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: