Phía trước là chân trời

VẤN ĐÁP 10

GIÚP CÁC EM ÔN THI HỌC KÌ I – NĂM HỌC 2013 – 2014 (Hỏi – đáp)

1/ Thế nào là ca dao ? Đặc điểm nội dung và hình thức của ca dao ?

*/ Ca dao :  Là tác phẩm thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sang tác nhằm diễn tả đời sống tâm tư tình cảm của nhân dân trong các mối

*/ Đặc điểm về nội dung : Diễn tả đời sống tâm tư tình cảm của nhân dân trong các mối quan hệ

*/ Đặc điểm về hình thức nghệ thuật

_ Có đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu, ngôn ngữ

_ Có sự lặp lại các hình ảnh, các chi tiết có giá trị nghệ thuật và lối diễn đạt bằng một số

công thức in đậm sắc thái dân gian

2/ Chỉ ra điểm giống và khác nhau  giữa bài ca dao 1 và 2 trong chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa ?

a/ Điểm giống :

_ Hình thức nghệ thuật

+ Đều được mở đầu bằng “ Thân em như

_ Đều sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh : So sánh thân em với một sự vật trong đời sống thường nhật (tấm lụa đào; củ ấu gai)

_ Nội dung :

+ Đây là lời than của những cô gái

+Cụm từ phiếm chỉ “ thân em như được lặp đi lặp lại trong ca dao nên vừa mang ý nghĩa xác định vừa mang ý nghĩa khái quát cao để nói về một loại người khổ nhục nhất, thấp bé nhất trong xã hội, đó là người phụ nữ.

 + Họ than về tình cảnh cay đắng: Bị tước đoạt quyền tự do, quyền làm chủ cuộc đời

+ Thủ phạm gây ra nỗi đau khổ và sự bất hạnh cho người phụ nữ không ai khác chính là xã hội phong kiến bất công.

b/ Điểm khác : ở hình ảnh so sánh

*/ Bài 1 :

­_ Tấm lụa đào gợi ý niệm về đẹp đẽ cả về hình thức lẫn phẩm chất của người con gái.

Có sắc đẹp, có tuổi xuân, có phẩm chất cao quí nhưng thân phận của họ vẫn chông chênh không có gì đảm bảo bởi “ Biết vào tay ai” khi nó được đem ra bày bán giữa chợ, nơi đủ hạng người sang hèn thanh tục.           

             → Sự lo lắng xuất hiện ngay vào cái thời điểm đẹp đẽ nhất của người con gái.

Điều đó đã nói lên thật sâu sắc thân phận của người phụ nữ : mong manh, phụ thuộc không biết đi đâu về đâu giữa dong đời trong đục.

*/ Bài 2

_ So với bài trên, bài 2 gấp đôi về số dòng thơ, để nhấn mạnh sự tự ý thức về thân em

 _ Bằng cách nói nhún nhường”ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen”, tác giả dân gian không chỉ nhấn mạnh giá trị đích thực của người con gái mà còn thể hiện sự nhìn nhận đánh giá của người xưa trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiện tượng

+ Bài ca còn là lời mời gọi : “Ai ơi nếm thử mà xem, Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

_ Không chỉ có vậy, đại từ phiếm chỉ “ai” kết hợp với từ hô ứng “ơi” làm cho lời ca trở thành lời mời gọi tha thiết : “Ai ơi nếm thử mà xem, Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

_ Từ “nếm” được láy lại hai lần thì lời mời ấy càng tha thiết mong mỏi đến nao lòng : Rằng ai kia đó ơi, hãy đến với nhau vì cái ngọt bùi nồng nàn tình nghĩa chứ đừng vì cái mĩ miều bên ngoài .

Như vậy đằng sau nỗi lòng mong mỏi tha thiết ấy còn làà lời trách móc ngậm ngùi của người phụ nữ đối với người đời : phũ phàng thờ ơ với vẻ đẹp thực chất mà mải đuổi theo cái hào nhoáng bên ngoài

3/ Chỉ ra điểm giống và khác nhau  giữa bài ca dao 2 và 3 trong chùm ca dao hài hước ?

*/ Điểm giống :

_ Hai bài ca dao là tiếng cười phê phán trong nội bộ nhân dân mà cụ thể ở đây là :  Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, lười nhác.

_ Vì thế, thái độ và mục đích phê phán của nười bình dân: Nhẹ nhàng thân tình mang tính giáo dục, nhắc nhở nhưng không vì thế mà kém sâu sắc

_ Tiếng cười của cả hai bài ca dao trên đều được bật ra từ nghệ thuật trào lộng : Phóng đại kết hợp với đối lập thông minh hóm hỉnh của người bình dân

*/ Điểm khác : thể hiện chủ yếu ở chất liệu để phóng đại và đối lập

_ Bài 2 :

Trong cuộc đời, có thể có những chàng trai yếu đuối, nhưng không ai lại yếu đuối đến mức chỉ gánh nổi có hai hạt vừng. Tính hài hước là ở chỗ phải

+ Đem việc làm ráng hết sức (Khom lưng chống gối), đối lập với kết quả nhỏ bé , không đáng (gánh hai hạt vừng ) kết hợp với lối nói phong đại,  để làm nổi bật đối tượng châm biếm, tiếng cười bật ra từ đó mục đích giáo dục cũng bật ra từ đó

_ Bài 3 :

_ Tính hài hước đặc sắc của bài ca lại nằm ở chỗ tác giả dân gian đem đối lập không gian vùng vẫy rộn lớn của chồng người (đi ngược về xuôi ) với không gian chật hẹp tù túng ( ngồi bếp) của chồng em

_ Không chỉ có vậy, tác giả dân gian còn làm rõ hơn cái mục đích, kết quả của cái chí hướng nam nhi chật hẹp tù túng ấy thông qua nghệ thuật phong đại, nói quá : sờ đuôi con mèo

èBằng  nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập, tác giả dân gian đã tóm đúng thân thái nhân vật, khái quát được bản chất một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ, vô tích sự, không có phong độ, không có chí hương của bậc nam nhi.

4/ Cảm nhận về bài ca dao sau :

Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này khế ơi?.

Mặt trăng sánh với mặt trời,

Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Gợi ý

I/ Mở bài :

Tình yêu là đề tài muôn thuở của ca dao dân ca. Nhưng không vì thế mà nó trở nên đơn điệu và nhàm chán Mỗi bài ca dao về đề tài này lại có một nét riêng độc đáo ẩn chứa những cung bậc sắc thái tình cảm, những giá trị khác nhau . Có bài ca là một câu chuyện tình đẹp. Có bài ca lại là nỗi lòng khắc khoải không yên cho duyên phận của đôi lứa. Và cũng có khi đó còn là nỗi lòng chua xót vì lỡ dở tình duyên  :

Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này khế ơi?.

Mặt trăng sánh với mặt trời,

Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

II/ Thân bài

Nếu “Thân em như…”là nỗi đau thân phận của người phụ nữ, thì lối mở đầu “Trèo lên…” lại là nỗi lòng chua xót vì lỡ dở tình duyên của chàng trai.

Với lối mở đầu đưa đẩy quen thuộc “Trèo lên cây khế nửa ngày,”Tác giả dân gian đã gợi hững cho những câu tiếp theo: “Ai làm chua xót lòng này khế ơi?”

_ Đại từ phiếm chỉ “Ai” thật mơ hồ nhưng cũng thật xác định. Còn ai vào đây nêu không phải là xã hội phong kiến xưa đã từng ngăn cách, làm tan nát biết bao mối tình của những đôi lứa yêu nhau. Một từ ai mà như xoáy vào lòng người bao nỗi niềm chua xót đắng cay.

Với nỗi lòng như thế chàng trai cất tiếng hỏi :

_ Ai làm chua xót lòng này khế ơi . Chàng trai hỏi khế để bộc lộ lòng mình : Khế chua như lòng người cũng chua xót vậy.  Một chút chơi chữ tài hoa của người xưa làm cho câu hỏi ấy càng thêm da diết thấm thía

Chua xót vì lỡ duyên nhưng tình nghĩa của chàng trai với cô gái vẫn trước sau như một :

                         “Mặt trăng sánh với mặt trời

                           Sao mai sánh với sao hôm chằng chằng”

Ta với mình cho dù xa cách muôn trùng như mặt trăng với mặt trời như sao hôm và sao mai nhưng tình nghĩa đôi ta vẫn đẹp đôi vừa lứa vẫn thủy chung bền vững. Bởi sao hôm và sao mai vốn chỉ là sao kim, ánh sáng của mặt trăng cũng vốn là từ ánh sáng mặt trời mà có. Và bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ mang tính vĩnh hằng ( mặt trăng sánh với mặt trời; sao hôm sánh với sao mai ), kết hợp với điệp ngữ (sánh với…) và từ láy (chằng chằng) tác giả dân gian đã khẳng định tình nghĩa chung thủy vững bền ấy của chàng trai.

Dường như còn sợ cô gái chưa hiểu hết tình cảm của mình, Chàng trai bộc lộ nỗi lòng của mình :

Mình ơi có nhớ ta chăng

 Mình – ta là mô típ xưng hô quen thuộc nhưng gần gũi đọng lại biết bao ân tình tha thiết sâu lặng của chàng trai.

 Mình ơi có nhớ ta chăng, chàng trai hỏi cô gái nhưng thực chất là để bộ lộ nỗi lòng của mình. Nỗi lòng ấy được chàng trai một lần nữa khẳng định :

 Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.  Sao Vượt, đó là tên cổ của sao Hôm. Sao Hôm mọc sớm từ buổi chiều, lúc ấy trăng chưa mọc. Có khi sao Hôm vượt lên đến đỉnh của bầu trời( sao Vượt ) thì trăng mới mọc nhưng cũng là lúc sao lặn. ấy vậy mà chàng trai tự ví

 Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. Hình ảnh thơ đẹp giàu ý nghĩa, diễn tả  cái mòn mỏi của sự chờ đợi, cái cô đơn của sự ngóng trông vô vọng và cả nỗi đau của người lỡ duyên thất tình

Nhưng cũng qua sự chờ đợi mòn mỏi ấy, ta cũng thấy được nét đẹp trong tâm hồn của chàng trai : Đó là vẻ đẹp của tình nghĩa con người. Vẻ đẹp ấy trước sau, mãi mãi vẫn sáng, vẫn nhấp nháy như ngôi sao Vượt trên trời như tình người trong ca dao xưa khi nói về những mối tình lỡ làng duyên kiếp

III/ Kết luận

5/ Cảm nhận của em về bài ca dao số 4 trong chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa ?

I/ Mở bài :

Tình yêu là đề tài muôn thuở của ca dao dân ca. Nhưng không vì thế mà nó trở nên đơn điệu và nhàm chán Mỗi bài ca dao về đề tài này lại có một nét riêng độc đáo ẩn chứa những cung bậc sắc thái tình cảm, những giá trị khác nhau . Có bài ca là một câu chuyện tình đẹp. Có bài ca là nỗi lòng chua xót vì lỡ dở tình duyên  . Nhưng có bài ca lại là nỗi lòng khắc khoải không yên cho duyên phận của đôi lứa.

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề.”

II/ Thân bài :

Nếu nhóm bài mở đầu bằng mô thức “Trèo lên…” là nỗi lòng của chàng trai trước tình duyên lỡ dở, thì ở bài này lại là nỗi lòng khắc khoải không yên của cô gái đối với chàng trai, với duyên phận của mình

Và nỗi lòng ấy được tác giả dân gian diễn tả sinh động và gợi cảm thông qua hình ảnh khăn đèn mắt

Toàn bộ bài ca là những câu hỏi dồn dập liên tiếp của cô gái. Cô hỏi khăn, hỏi đèn rồi hỏi chính mắt mình. Cô hỏi mà không chờ lời đáp và thực tế cũng không có lời đáp. Hẳn trong lòng cô phải bồn chồn lắm phải khắc khoải không yên thì cô mới hỏi dồn dập đến như vậy. Đầu tiên cô gái

*/ Hỏi khăn

_ Khăn vừa là vật gần gũi trong đời sống của người bình dân xưa vừa là hình ảnh quen thuộc trong ca dao dân ca. Cái khăn đội đầu hoặc khăn tay là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người xa : Gửi khăn, gửi áo, gửi lời. Gửi đôi chàng mạng cho người ở xa; Nhớ khi khăn mở trầu trao, Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Có thể nói khăn luôn quấn quít bên mình người con gái như cùng chia sẻ niềm thương nỗi nhớ. Vì thế trong bài ca này chiếc khăn được hỏi đến đầu tiên và được hỏi nhiều nhất chiếm tới nửa bài ca tức là 6 dòng thơ, hai tư chữ

_ Khăn được láy lại sáu lần ở vị trí đầu cầu kết hợp với cụm từ “Thương nhớ ai” láy lại ba lần có tới 16 thanh bằng. Và như vậy,  với lối cấu trúc vắt dòng, kết hợp với  điệp từ, điệp cấu trúc, tác giả dân gian đã gợi ra nỗi nhớ thương bâng khuâng da diết, đậm mầu sắc nữ tính của người con gái biết kìm nén cảm xúc của mình, không bộc lộ một cách dễ dãi

_ Ai là đại từ phiếm chỉ nhưng thật xác định. Còn ai vào đây nữa nếu không phải là chàng trai mà cô thương nhớ. 

Đại từ ai còn biến lời ca thành câu hỏi. Và mỗi lần cô hỏi khăn là một lần nỗi nhớ lại trào dâng triền miên da diết

Tất nhiên, khăn không tự nói lên chuyện. Nhưng sự vận động của nó : “Khăn  rơi xuống đất.  Khăn vắt lên vai. Khăn chùi nước mắt”. Tác giả dân gian đã nhân cách hóa chiếc khăn trong sự vận động trái chiều của nó giúp ta hình dung rõ nét tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò của một cô gái đang yêu.

Và như thế chiếc khăn trở thành biểu tượng cho tâm trạng cho nỗi lòng của cô.

 Tâm trạng ấy khiến ta nhớ tới một lời ca khác : Nhớ ai bồi hổi bồi hồi, Nhưng đứng đống lửa như ngồi đống than

Tâm trạng ấy, nỗi lòng ấy da diết triền miên, bao trùm cả không gian, ở mọi hướng mọi nơi (lên xuống). Khiến cô gái không làm chủ được bước đi dáng đứng của mình nên khăn mới rơi xuống đất, khăn lại được vắt lên vai. Để rồi dẫn đến cảnh khóc thầm “khăn chùi nước mắt”. Và thực tế trong xã hội xưa đã có biết bao cô gái phải chùi nước mắt khóc thầm như vậy : “Nhớ ai em những khóc thầm, Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”.

Hỏi khăn mà chưa giải tỏa được nỗi lòng của mình, cô gái chuyển sang

*/ Hỏi đèn

Điệp khúc thương nhớ ai vẫn được láy lại, nhưng nỗi nhớ đã được đặt vào “đèn”. Bởi đèn là dấu hiệu, bước đi của thời gian từ ngày sang đêm

Và như thế,  nỗi nhớ không chỉ bao trùm không gian mà nó còn kéo dài theo thời gian : nhớ từ ngày sang đêm từ chiếc khăn đến ngọn đèn. Chừng nào ngọn lửa tình vẫn cháy sáng trong trái tim của người con gái thì ngọn đèn kia sao có thể tắt được

_ Đèn không tắt hay chính người con gái đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ niềm thương. Nếu trên kia cái khăn cũng biết giãi bày thì ở đây, tác giả dân gian nhân cách hóa, để ngọn đèn cũng biết thổ lộ, nó đã nói  với chúng ta nhiều điều không có trong lời ca

Kín đáo, gián tiếp bộc lộ tâm trạng của mình qua biểu tượng nhân hóa “cái khăn” và “ngọn đèn”, nhưng dường như tất cả những cái đó không khỏa lấp được, không làm vơi đi được nỗi lòng khắc khoải nhớ người thương của cô gái. Nên cô chuyển sang

*/ Hỏi mắt

_ “Mắt thương nhớ ai”. Cô hỏi chính mình, chất vấn chính mình. Điều đó, chứn tỏ nỗi lòng cô nặng trĩu ưu tư, khối tình thương nhớ vẫn nguyên không hề giảm. Và vì thế :

_ Mắt ngủ  không yên

“Đêm nằm lưng chẳng tới giường”, cứ nhắm mắt vào, người thương lại hiện lên, làm sao cô gái có thể ngủ được. Vậy thì có phải tại đôi mắt ngủ không yên hay chính tại tâm hồn cô, nỗi lòng của cô không yên, không nguôi.

Nếu ở trên là “đèn không tắt” thì ở đây “mắt không ngủ yên”. Hình tượng thơ thật hợp lí, nhất quan, tự nhiên như cuộc sống con người như chính niềm thương nỗi nhớ của cô vậy

Hỏi khăn, hỏi đèn rối cuối cùng, không kìm nén được cô đã hỏi chính mắt của mình. Những câu hỏi liên tiếp vang lên, điệp khúc “thương nhớ ai” cứ xoáy mãi vào lòng người nhưng không một câu trả lời. Vô vọng và khắc khoải giờ đây vỡ òa thành nỗi lo âu

_ Đêm qua em những lo phiền

  Lo vì một nỗi không yên một bề

Đến đây ta mới chợt hiểu ra chiều sâu trong nỗi lòng của cô gái. Khăn rơi xuống đất, khăn vặt lên vai, đèn không tắt, mắt ngủ không yên không chỉ vì cô nhớ người yêu. Mà quan trọng hơn còn là vì cô lo sợ cho duyên phận lứa đôi không biết có được yên một bề hay không. Nói cách khác Sự bấp bênh của hạnh phúc tình yêu là nỗi lo sợ choán ngợp tâm hồn cô

Và đến đây ta cũng chợt hiểu vì sao cô lại có nỗi lòng ấy. Trong xã hội xưa, chuyện hôn nhân do cha mẹ quyết định, con cái, hơn nữa lại là thân gái như cô làm gì có quyền định đoạt lấy hạnh phúc của mình. Nên có tình yêu đẹp,  tha thiết nhưng chắc gì đã dẫn đến hôn nhân, chắc gì đã hạnh phúc bởi : Thương anh em cũng muốn nói ra – Sợ mẹ bằng đất sợ cha bằng trời.

III/ Kết luận :

 Họ không làm chủ được số phận của mình, vì thế bất hạnh, lỡ duyên cũng là điều khó tránh. Nhưng dù vậy, bài ca vẫn là tiếng hát đầy yêu thương của một tấm lòng đòi hỏi phải được yêu, khiến cho nỗi nhớ này không hề bi lụy mà chan chứa tình người như một nét đẹp tâm hồn của các cô gái Việt ở làng quê xưa. Vì thế vượt chặng đường  mấy nghìn năm  , bài ca luôn có một vị trí riêng trong lòng người đọc.Và nó sẽ mãi là viên ngọc sáng lon lanh tron kho tàn văn học nước nhà

6/ Cảm nhận của em về bài ca dao số 1 trong chùm ca dao hài hước ?

1/ Mỏ bài :

Ca dao dân ca là tiêng lòng của nười bình dân xưa. Mỗi bài ca cất lên có thể là một lòi than vì bị tước đoạt quyền làm chủ của mình; cũn có khi là nỗi lòn chua xót vì lỡ dỏ tình duyên. Nhưng trong vô vàn tiếng kêu thương ấy cũn có những tiếng cười vui hóm hỉnh, mà bài ca dao là một điển hình :

        “Cưới nàng anh toan … nó ăn  “

2/ Thân bài :

Bài ca trên là lời đối đáp của chàng trai và cô gái. Họ nói về vấn đề dẫn cưới và thách cưới.

Và trong việc dẫn cưới của chàng trai dự định dẫn : Voi, trâu, bò. Đó là những lễ vật thật to lớn sang trọng linh đình mà chỉ nhà giàu mới có được. Còn với chàng trai đầu tắt mặt tối quanh năm suốt tháng vẫn không đủ ăn lấy đâu ra voi, trâu bò để mà dẫn cưới. Nên, đó chỉ có thể là kết quả của sự tưởng tượng, là lối nói khoa trương phóng đại làm đẹp lòng người yêu của chàng trai

Dự định thật cao sang. Nhưng để thực hiện cái dự định cao sang ấy chàng trai còn chút băn khoăn bối rối. Ta hãy nghe chàng trai lí giải sự băn khoan ấy của mình :

          Anh sợ quốc cấm nên voi khôn bàn   

              Dẫn trâu  sợ họ mấu hàn

     Dẫn bò sợ họ nhà nàn co gân.

Xem ra chàng trai quả là biết lo xa, biết nghĩ đến người khác. Và với cách lí giải có vẻ có tình lại có lí đến vậy thì tất yếu dẫn đến  kết quả của việc dẫn cưới :            

                                                Miễn là có thú bốn chân

                                         Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

Một con chuột béo nhưng không phải cho riêng nàng hay gia đình nàng mà là cho cả làng. Yếu tố gây cười của câu ca dao chính là ở  lối nói khoa trương phong đại của chàng trai với cô gái về cái dự định to lớn của mình ; ở sự đối lập giữa chất lượng và số lượng lập giữa dự định và thực tế :    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng

Cưới hỏi là lúc bộc lộ rõ nhất cái nghèo. Và người bình dân đã chọn hoàn cảnh điển hình ấy để tự cười mình một cách hồn nhiên vô tư hóm hỉnh.  Qua đó ta cũng khám phá ra được vẻ đẹp trong tâm hồn của người lao động : Dù trong  cảnh nghèo, họ vẫn luôn lạc quan yêu đời, ham sống

Đáp lại lời dự định dẫn cưới của chàng trai, cô gái cũng sắc sảo không kém. Trước tiên cô cảm ơn và lấy làm tự hào về chàn trai :

          Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngan như là

   Sau đó cô thách lại :

            Người ta thách lợn thách gà

       Em đây thách cưới một nhà khoai lang.

Nếu anh định dẫn bằng thú 4 chân thì em đây khác người thách bằng vật : “Một nhà khoai lang”.  Cô gái dơ thật cao thách cưới hẳn “một nhà” thật to thật sang. Nghe đến đây chắc hẳn chàng trai phải choáng váng vì lo sợ. Nhưng ngay sau đó cô lại hạ xuống se sẽ : “Khoai lang” – một thứ bình dân nhất của những người bình dân. Đến đây chàng trai như vỡ oà vì sung sướng còn người đọc bật cười về sự hài hước hóm hỉnh của cô gái Và chúng ta hãy nghe cô lí giải việc thách cưới của mình :

       “Củ to cô để mời làng”.

  Còn như củ nhỏ, họ hang ăn chơi

         Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi

 Để cho con trẻ con ăn chơi giữ nhà

         Bao nhiêủ củ rím củ hà

Để cho con lợn con gà nó ăn

   Qua cách lí giải vấn đề, ta thấy cô gái không chỉ thông minh hóm hỉnh (biết làm đẹp lòng người yêu) mà họ còn luôn lạc quan, nhưng cũng rất thực tế biết bằng lòng với gia cảnh của mình

3/ Kết luân : …

II/ Bài khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX ( văn học trung đại Việt Nam )

1/ Hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX …

2/ Các bộ phận hợp thành và các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX ?

*/ Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX  : là bộ phận van học chữ Hán và bộ phận van học chữ Nôm

*/ Các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX :

_ Giai đoạn 1 : Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV

_ Giai đoạn 2 : Từ thế kỉ XV đến hết XVII

_ Giai đoạn 3 : Từ thế kỉ XVIII đến nửa đâu XIX

_ Giai đoạn 4 :  Nửa cuối thế kỉ XIX

3/ Những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX :

_ Chủ nghĩa yêu nước

_ Chủ nghĩa nhân đạo

_ Cảm hứng thế sự

4/ Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX :

_ Tính qui phạm và việc phá vỡ tính qui phạm

_ Khuynh hướng trang nhã và xu thế bình dị

_ Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài

5/ Nêu ngắn gọn biểu hiện của chủ nghĩa  yêu nước trong văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX :

*/ Trong thời bình:

_ Yêu nước là yêu giống nòi, yêu lịch sử, yêu nhân dân, yêu tiến mẹ đẻ, yêu csnhr tri non song

_ Yêu nước là tự hào tự tôn dân tộc, có khát vọng xây dụn đất nước hòa bình

*/ Trong thời chiến tranh

_ Yêu nước là căm thù giặc; quyết chiến quyết thắn với giặc để bảo vê chủ quyền đất nước

_ Yêu nước là biết ơn và ca ngợi những người xả thân vì nước

_ _ Yêu nước là khôn hợp tác với giặc, không đầu hàng giặc

6/  Nêu ngắn gọn biểu hiện của chủ nghĩa  nhân đạo trong văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX

_ ( Yêu nước cũng là một phương diện cơ bản của nhân đạo )

_ Những nguyên tác đạo lý làm người

_ Những thái độ đối xử tốt lành trong mối quan hệ giữa con người với nhau

_ Những khát vọng về hạnh phúc, về quyền sống của con người trong đó có quyền sống của cá nhân.

_ Là tấm lòng thiết tha vun đắp những giá trị nhân đạo ngày một tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn

_ Là tấm lòng thương cảm cho mọi kiếp người đau khổ, đặc biệt là đối với trẻ em và phụ nữ với những người lương thiện bị hãm hại

7/ Thế nào là tính qui phạm ? biểu hiện của tính qui phạm  trong văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX

*/ Thế nào là tính qui phạm : Là sự qui định chặt chẽ nhiều khi đến thành khuôn mẫu phải tuân theo

 */ Biểu hiện 

_ Quan điểm nghệ thuật rất : coi trọng mục đích giáo huấn của văn học

_ Tập quán tư duy nghệ thuật : Là quen nghĩ, và phải nghĩ qua những kiểu mẫu nghệ thuật có sẵn, đã thành công thức.

_ Thể loại văn học:  có lối kết cấu định hình có niêm luật chặt chẽ .

_ Cách sử dụng thi liệu văn liệu : đã thành môtíp quen thuộc. Ví dụ

8/ Nêu ngắn gọn biểu hiện của quá trình dân tọc hóa tinh hoa văn học nước ngoài  của văn học Việt Nam từ TK X đến hết TK XIX

_ Do tinh thần tự tôn dân tộc, do các yêu tố Hán vân không thể hiện đúng tâm tư nguyện vong của nhân dân, nên trong quá trình tiếp thu, cha ông ta đã dân tộc hóa các tinh hoa văn học nước ngoài

*/ Quá trình đó được biểu hiện ở:

_ Văn tự : sáng chế ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt

_ Thể loại : Tìm ra thể thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói cùng các biến thể của chúng.

_ Về thi liệu, văn liệu

+Những hiện thực quen thuộc, đời thường của dân tộc được đưa vào thơ ca (mùng tơi,  bè rau muống, cái chăn chiên, cảnh làng quê…)

+ Việt hoá thơ Đường…

III/ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

1/ Học thuộc lòng bài thơ:

Nguyên tác :

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu, 

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu. 

Nam nhi vị liễu công danh trái, 

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

Dịch thơ :

Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân hùng khí át sao Ngưu.

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.

2/ Chữ “Công danh” trong câu thơ “Công danh nam tử còn vươn nợ” (Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão), có ý nhĩa như thế nào ?

_ Công danh, đó là quan niệm nhân sinh thời phong kiến. Người xưa cho rằng làm trai phải lập công để lại sự nghiệp, lập danh để có tiếng thơm được lưu tên trên bảng vàng bia đá.

Với ý thúc hệ như vậy,  Phạm Ngũ Lão cũng không ngoại lệ: “Công danh nam tử còn vương nợ.”

Ở thời đại Phạm Ngũ Lão, chế độ phong kiến Việt Nam đang trên đà xây dựng và phát triển, quyền lợi của giai cấp phong kiến về cơ bản phù hợp với quyền lợi của dân tộc, của nhân dân lao động. Hơn nữa đất nước lại đang có giặc ngoại xâm, nên công danh mà ông nói đến ở đây chính là : Khát vọng được lưu danh của nhà thơ cũng đồng nghĩa với khát vọng lập nhiều chiến công, khát vọng hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước. Khát vọng ấy còn có ý nghĩa là luôn sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì đất nước.

   Như thế, công danh mà Phạm Ngũ Lão nói đến ở đây là thứ công danh được làm lên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công chứ không phải là thứ công danh tầm thường mang đậm màu sắc anh hùng cá nhân.

3/ Phân tích ý nghĩa của nỗi “thẹn” tron câu thơ “Luốn thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” (Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão)

  Nợ công danh như một gánh nặng mà trán sĩ đời Trần nói chun, Phạm Ngũ Lão nói riêng nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu cùng lòng dũng cảm. Và cũng từ cái nợ công danh ấy mà ở nhà thơ nảy sinh một nỗi “thẹn: ”Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” – Luống thẹn tai nghe chuyên Vũ Hầu.

Thẹn là xấu hổ, là thể hiện lòng tự trọng của một con người.Nỗi then của nhà thơ không phải là nỗi thẹn thông thường của một con người bình thường. Mà đó là nỗi thẹn của một người anh hùng trước vận mệnh của non sông đất nước.

 Nhà thơ thẹn vì chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng để khôi phục giang sơn giải phóng đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm.

Điều đáng nói là ở chỗ : ông là người công danh lừng lẫy đánh đông dẹp bắc, trăm trận, trăm thắng mà vẫn cảm thấy mình vương nợ với đời, còn phải thẹn khi nghĩ đến chuyện Vũ Hầu. Duy một điều đó cũng đã cho ta biết :  Khát vọng lập công và nhân cách của nhà thơ cao cả biết chừng nào. Sự khiêm tốn và nỗ lực vươn tới không ngừng của tác giả có giá trị cổ vũ thế hệ sau. Và chính vì biết thẹn trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ, người anh hùng Phạm Ngũ Lão.

4/ Phân tích bài thơ  làm nổi bật vẻ đẹp của người tráng sĩ đời Trần ?

a/ Mở bài :

    Triều đại nhà Trần với ba lần chiến  thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, khôn chỉ là  mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữa nước của lịch sử dân tộc ta. Mà còn là nuồn cảm hứng bất tậm của thi ca: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu. Góp vào tiếng nói chung ấy Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi, về khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lặng:

“Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân hùng khí át sao Ngưu.

   Công danh nam tử còn vương nợ,

         Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

b/ Thân bài

Thuật hoài hay ngôn hoài đều được dịch là tỏ lòng . Ở hai câu đầu Phạm Ngũ Lão muốn bày tỏ : Niềm tự hào về tư thế về khí thế chiến đấu của người tráng sĩ;của ba quân, của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mà ở đó nổi bật lên hình ảnh người tráng sĩ : Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu

Nếu câu thơ dịch “Múa giáo non sông trải  mấy thu” gợi ra tư thế động, nặng về sự phô diễn tài nghệ cá nhân  . Thì ở nguyên tác “ Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu” lại gợi ra tư thế tĩnh, tư thế chuẩn bị, tư thế hiên ngang dũng mãnh, sẵn sàng  chiến đấu và chiến thắng. Và cũng qua câu thơ ấy, ta còn biết tầm vóc lớn lao kĩ vĩ của người tráng sĩ: Vừa mang kích thước của vũ trụ – giang sơn ngọn giáo non sông),  vừa mang độ dài của thời gian, của lịch sử – kỉ thu, vừa có lí  tưởng và mục đích cao cả (bảo vệ non song)

Và như thế, để khắc hoạ chân dung người tráng sĩ đời Trần, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật hoành tráng, Phạm Ngũ Lão đã khắc hoạ thành công hình ảnh tráng sĩ với tư thế hiên ngang, với khát vọng yêu nước hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại xưa

Nói đến tráng sĩ bền bỉ hiên ngang cứu nước mà nói với hình ảnh cắp ngang ngọn giáo vẫy vùng khắp non sông trải mấy mùa thu ít ra cũng có sức hấp dẫn tối đa.  Hình ảnh ấy càng trở nên lớn lao hơn, mạnh mẽ vững chãi hơn khi phía sau người tráng sĩ có sự hậu thuẫn của ba quân :

    “ Ba quân tì hổ khí thôn Ngưu.”

_ Ba quân chính là đội quân xung trận, là thế hệ Phạm Ngũ Lão và cũng là hình ảnh dân tộc . Ba quân gợi ra sự đông đảo trùng trùng điệp điệp .

Đội quân “Sát thát” ấy không chỉ đông đảo về số lượng mà còn xung trận với sức mạnh phi thường :  Ba quân tì hổ khí thôn Ngưu

Hình ảnh thơ trên có thể hiểu là ba quân sức mạnh như hổ báo có thể nuốt trôi trâu. Nhưng ta cũng có thể hiểu là ba quân như hổ báo, khí thế sức mạnh át cả sao Ngưu.

Dù hiểu theo cách nào ta cũng thấy hợp lí, cũng là bằng nghệ thuật thậm xưng kết hợp với hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ không chỉ tạo ra một hình tượng thơ mang tầm vóc vũ trụ mà còn thể hiện được khí thế sức mạnh vô địch của ba quân của dân tộc. Hình tượng thơ ấy còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc.  Tráng sĩ và ba quân, đó là mối quan hệ hài hoà mật thiết giữa cá nhân với dân tộc với thế hệ. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng làm tăng thêm khí thế ngất trời của ba quân. Đồng thời khí thế của ba quân lại làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm cao đẹp và lộng lẫy. Mỗi con người đều tìm thấy bóng dáng của mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp.

    Và cũng chỉ qua hai câu thơ,      

    và trong bức tranh hoành tráng chung về đất nước về dân tộc, người đọc cũng hình dung khá rõ vẻ đẹp sử thi của nhân vật trữ tình trong tư thế hiên ngang, tư thế của một vị tướng.

Tiếp nối mạch cảm xúc ở hai câu thơ trên, hai câu sau nhà thơ thể hiện                      Khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước vì dân tộc:

                          Nam nhi vị liễu công danh trái,

                         Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Công danh, đó là quan niệm nhân sinh thời phong kiến. Người xưa cho rằng làm trai phải lập công để lại sự nghiệp, lập danh để có tiếng thơm được lưu tên trên bảng vàng bia đá.

Với ý thúc hệ như vậy,  Phạm Ngũ Lão cũng không ngoại lệ: “Công danh nam tử còn vương nợ.”

Ở thời đại Phạm Ngũ Lão, chế độ phong kiến Việt Nam đang trên đà xây dựng và phát triển, quyền lợi của giai cấp phong kiến về cơ bản phù hợp với quyền lợi của dân tộc, của nhân dân lao động. Hơn nữa đất nước lại đang có giặc ngoại xâm, nên công danh mà ông nói đến ở đây chính là : Khát vọng được lưu danh của nhà thơ cũng đồng nghĩa với khát vọng lập nhiều chiến công, khát vọng hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước. Khát vọng ấy còn có ý nghĩa là luôn sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì đất nước.

   Như thế, công danh mà Phạm Ngũ Lão nói đến ở đây là thứ công danh được làm lên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công chứ không phải là thứ công danh tầm thường mang đậm màu sắc anh hùng cá nhân.

Nợ công danh như một gánh nặng mà trán sĩ đời Trần nói chun, Phạm Ngũ Lão nói riêng nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu cùng lòng dũng cảm. Và cũng từ cái nợ công danh ấy mà ở nhà thơ nảy sinh một nỗi “thẹn: ”Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” – Luống thẹn tai nghe chuyên Vũ Hầu.

Thẹn là xấu hổ, là thể hiện lòng tự trọng của một con người.Nỗi then của nhà thơ không phải là nỗi thẹn thông thường của một con người bình thường. Mà đó là nỗi thẹn của một người anh hùng trước vận mệnh của non sông đất nước.

 Nhà thơ thẹn vì chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng để khôi phục giang sơn giải phóng đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm.

Điều đáng nói là ở chỗ : ông là người công danh lừng lẫy đánh đông dẹp bắc, trăm trận, trăm thắng mà vẫn cảm thấy mình vương nợ với đời, còn phải thẹn khi nghĩ đến chuyện Vũ Hầu. Duy một điều đó cũng đã cho ta biết :  Khát vọng lập công và nhân cách của nhà thơ cao cả biết chừng nào. Sự khiêm tốn và nỗ lực vươn tới không ngừng của tác giả có giá trị cổ vũ thế hệ sau. Và chính vì biết thẹn trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ, người anh hùng Phạm Ngũ Lão.

Và chính vì biết thẹn trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ, người anh hùng Phạm Ngũ Lão.

Quả thực Phạm Ngũ Lão và thế hệ của ông không hề nói suông, không chỉ biết “thẹn”. Mà tất cả đều biến thành hành động, học tập binh thư, rèn luyện cung kiếm “khiến cho người người giỏi  như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai…”, lập được nhiều chiến công hơn nữa để Tổ quốc Đại Việt trường tồn bền vững “non sông nghìn thuở vững âu vàng”

 c/ Kết luận

Ra đời cách chúng ta vài thế kỉ, song . Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ mang âm hưởng anh hùng ca. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng thơ kĩ vĩ, tráng lệ,  Bài thơ mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời hào khí Đông A

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI GIỮA KỲ I NĂM HỌC 2013 – 2014

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI GIỮA KỲ I- 10 (Clik )

A/ PHẦN VĂN HỌC :

Bài 1 : Tổng quân văn học Việt Nam

_ Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam ?

*/ Các bộ phận nào hợp thành nền văn học việt Nam gồm : Văn học dân gian và văn học viết

*/ Văn học dân gian sáng tác theo phương thức : truyền miệng. Lực lượng sáng tác của văn học dân gian là người bình dân. Về thể loại , văn học dân gian có 1 hệ thống thể loại đặc trưng như thân thoại, sử thi, truyền thuyêt, cô tích, ca dao dân ca, truyên cười …_ Văn học dân gian có những đặc trưng tiêu biểu là : tính truyền miệng, tính tập thể và gắn bo mật thiết với sinh hoạt của cộng đồng

*/  Văn học viết sáng tác theo phương thức : ghi lại bằng văn tự. Lực lượng sang tác của văn học viết là những trí thức tài hoa. Về thể loại , văn học viết cũng có 1 hệ thống thể loại đặc trưng như văn xuôi tiểu thuyết, truyên ngắn, ký; thơ truyền thông và thơ hiện đại, …Văn học viết có đặc trưng tiêu biểu là : mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo

_ Sự khác nhau cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết ?

_ Văn học dân gian sáng tác theo phương thức truyền miệng, còn văn học viết sang tác thông qua văn tự

_  Văn học dân gian do người bình dân sáng tác, còn văn học viết do các trí thức tài hoa

_  Văn học dân gian có 1 hệ thống thể loại đặc trưng của riêng mình như : thân thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyeenh cười, ca dao dân ca…. Còn văn học viết cũng có 1 hệ thống thể loại đặc trưng của riêng : tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ cổ điển, thơ hiện đại…

_  Văn học dân gian có đặc trưng tiêu biểu : tính truyền miệng, tính tập thể, tính gắn bó bới sinh hoạt cộng đồng. Con văn học viết, đặc trưng tiêu biểu của nó là mang đậm dấu ân cá nhân của người sang tạo

_ Nêu tóm tắt quá trình phát triển của văn học viết Việt Nam ?

*/ Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học viết Việt Nam được chia ra làm 2 thời kỳ : Văn học trung đại và văn học hiện đại

*/ Văn học trung đại Việt Nam

_ Được hình thành và phát triển từ thế kỷ X đến hết thế kì XIX trong hình thái xã hội phong kiến.

_Văn học trung đại sử dụng chủ yếu 2 văn tự : chữ Hán và chữ Nôm.

_ Vùng ảnh hưởng và giao lưu của nó chủ yếu với văn hóa văn học phương Bắc ( Trung Quốc)

_ Nội dung cơ bản của văn học trung đại là cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự

_ Về hình thức nghệ thuật, nó mang tính qui phạm, sáng tác theo công thức, khuôn mẫu có sẵn

*/ Văn học hiện đại Việt Nam hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX đến nay,

trong hình thái xã hội thực dân phong kiến ở giai đoạn đầu và xã hội xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn sau.

_ Văn học hiện đại sử dụng chủ yếu văn tự : chữ Quốc ngữ

_ Văn học hiện đại ảnh hưởng và giao lưu chủ yếu với văn hóa văn học Pháp ở giai đoạn đầu, với nhiều nước trên thế giới ở giai đoạn sau

_ Nội dung cơ bản của văn học hiện đại là cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo và ý thức về cái tôi cá nhân

_ Về hình thức nghệ thuật, nó mang tính hiện đại mang đậm phong cách cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật

_ Con người Việt Nam trong văn học được thể hiện trong các mối quan hệ nào ?

Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ : với thế giới tự nhiên, với quốc gia dân tộc, với quan hệ xã hội, với ý thức bản thân

Bài 2 : Khái quát văn học dân gian Việt Nam

_ Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian ?

*/ Văn học dân gian có đặc trưng tiêu biểu : tính truyền miệng, tính tập thể, tính gắn bó với sinh hoạt cộng đồng.

_Thực chất của  quá trình truyền miệng và quá trình sáng tạo tập thể của văn học dân gian ?

*/ Thực chất quá trình truyền miệng của văn học dân gian là : sự ghi nhớ vào óc và phổ biến lại cho mọi người. Truyền miệng theo không gian là sự lan tỏa từ nơi này sang nơi khác. Truyền miệng theo thời gian là sự bảo lưu từ đời này sang đời khác từ thời đại này sang thời đại khác.

*/ Thực chất quá trình sáng tạo tập thể của văn học dân gian là

_ Lúc đầu một người khởi xướng . Sau đó tập thể tiếp nhận bổ sung, gọt rũa và lưu truyền trở thành tác phẩm hoàn chỉnh như ngày nay. Vì thế văn học dan gian là tải sản chung của tập thể

_ Giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam ?

Bài 3 : Chiến thắng Mtao Mxây

_ Thế nào là sử thi ?

Là những sáng tác tự sự dài bằng văn vần hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần, kể về những sự kiện quan trọng có ý nghĩa lơn lao đối với toàn thể cộng đồng

_ Đặc điểm phản ánh của sử thi anh hùng ? Điều đó được biểu hiện trong trường ca Đăm săn như thế nào ?

_ Kể vầ sự nghiệp và chiến công của người anh hùng đối với toàn thể cộng đồng.

_ Phản ánh xã hội Tây Nguyên đang ở giai đoạn tiền giai cấp, tiền quốc gia.

_ Nhân vật trung tâm của sử thi là người anh hùng có tài năng và sứ mạnh phi thường, giỏi chiến đấu, giỏi lao động sản xuất, sẵn sàng hi sinh vì lợi ích của cộng đồng

_ Tính cách số phận của nhân vật anh hùng phản ánh tính cách số phận của cả tộc người, là biểu hiện tập trung đến mức cao nhất những gì thuộc về cộng đồng

Nên xây dưng hình tương nhân vật anh hùng nhằm đề cao, phóng đại sức mạnh của cộng đồng

_ Thực chất của cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao mxây ? Chi tiết nào trong tác phẩm chứng tỏ điều đó ?

*/ Thực chất của cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao mxây: Đây là cuộc chiến tranh đồng tộc giữa hai tù trưởng. Nó không kìm hãm sự phát triển của xã hội mà ngược lại, nó giúp tập những tập thể lẻ tẻ rời rạc tập hợp dần thành những tập thể lớn hơn trên con đường hình thành dân tộc

*/ Những chi tiết chứng tỏ điều trên :

_ Tham gia vào cuộc chiến chống Mtao Mxây không chỉ có dân làng của Đăm Săn mà còn có các tù trưởng khác

_ Kết thúc cuôc chiến không phải là cảnh tàn sát chém giết mà là cảnh ăn mừng chiến thắng trong sự hân hoan phân khởi của cả cộng đồng. Dân làng của Mtao Mxây cũng lũ lượt đi theo và ai cũng hoan hỉ bàn tán không cùng về một tù trưởng Đăm Săn dung cảm hùng mạnh

_ Vai trò của ông trời trong chiến thắng của Đăm săn ?

_ Trong sử thi Tây Nguyên, thần linh có quan hệ gần gũi bình đẳng với con người.Dó là dấu vết của tư duy thần thoại cổ chi phối sự sáng tạo sử thi

_ Ông trời trong trường ca Đăm Săn, ông trời (thần linh) tuy có tham gia vào việc người, nhưng chỉ đóng vai trò cố vấn chứ khống quyết định kết quả cụ thể của cuộc chiến.Mà nó tùy thuộc vào hành động phẩm chất của người anh hùng

Bài 4 : Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

_ Khái niệm về truyền thuyết ? Đặc điểm phản ánh của truyền thuyết. Đặc điểm đó được biểu hiện trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy như thế nào ?

*/ Khái niệm :

Là thể loại văn học dân gian kể về các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử có thật

*/  Đặc điểm phản ánh :

+ Lịch sử được kể đã được khúc xạ qua những hình tượng nghệ thuật đậm màu sắc thần kì

+ Những yếu tố thần kì ấy vừa là một cách ghi chép sử vừa nói lên tâm tư tình cảm thiết tha của nhân dân ta đối với các sự kiện và nhân vật

+ Truyền thuyết tồn tại ở dạng hoà lẫn với những lễ hội tưởng niệm các nhân vật và các sự kiện lịch sử …

*/ Đặc điểm đó được biểu hiện trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

_ An Dương Vương xây thành Cổ Loa chế mũi tên đồng ; và việc nhà nước Au Lạc bị diệt vong được khúc xạ qua hình tượng nghệ thuật đậm màu sắ huyền bí : sự trợ giúp của thần Kim Qui và chiếc nỏ thần trăm phát trăm trúng. và mối tình Mị Châu Trọng Thủy

_ Trong truyện có các yếu tố thần kì  : Thần Kim Qui, nr thần, sự hóa thân của An Dương Vương và Mị Châu. Đó vừa là cách ghi chép lịch sử của nhân dân ta vưa là thái độ tình cảm của nhân dân ta đối với các nhân vật lịch sử : Kính trọng và ngưỡng mộ đối với An Dương Vương; Nghiêm khắc trừng phạt Trọng Thủy, Mị Châu nhưng có chút thương cảm đối với kẻ biết hối hận; một chút đền bù với người vô tình mà phạm tội

Truyền thuyết này cũng tồn tại cùng lễ hội đèn Cổ Loa

_ Chỉ ra phần hư cấu và phàn cốt lõi lịch sử trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy ?

_ Phần hư cấu : thần Kim Qui, nỏ thần, câu chuyện cầu hòa cầu hôn, sự hóa thân của An Dương Vương và Mị Châu

_ Phần cốt lõi lịch sử: An Dương Vương xây thành Cổ Loa,Triệu Đà sang xâm lược, nhà nước Âu Lạc thất thủ

_ Mầm mống thất bại  và nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm họa mất nước của An Dương Vương ?

*/ Mầm mống thất bại của An Dương Vương : Do nhà vua mất cảnh giác đối với dã tâm xâm lược của kẻ thù,cầu hòa cầu hôn một cách vô nguyên tăc; lại còn cho gửi rể khác nào nuôi ong trong tay áo.

*/ Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm họa mất nước của An Dương Vương : Chủ quan ỉ vào sức mạnh của vũ khí

_ Em có nhận xét gì về sự hóa thân của An Dương Vương ?

_ Trong cảm nhận của người xưa An Vương Vương là vẫn được coi là anh hùng xây thành dựng nước, chế tạo vũ khí đánh giặc ngoại xâm.

_ Nhưng An Dương Vương cũng là vị anh hùng thất trận đã để xảy ra cảnh nước mất nhà tan. Nên hình ảnh An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc, rua vàng rẽ nước dẫn vua vào thế giới vĩnh cữ của thân linh.Đó là cách hóa thân đẹp và hợp lý thể hiện long kính trọng và ngưỡng mộ của nhân dân đối với vị anh hùng

_ Theo em Trọng Thủy có yêu vợ không ? Hành động tự tử của Trọng Thủy có thống nhất với lời từ biệt vợ ở trên không ? Thực chất bi kịch của Trọng Thủy gì ?

+ Lúc đầu trọng thủy không yêu vợ, nhưng trong quá trình thực hiện âm mưu đen tối của vua cha, hắn đã nảy sinh tình cảm vợ chồng thực sự với Mị Châu. Lời từ biệt vợ và hành động tự tử của hắn đều thống nhất với nhau và đã chứng minh cho tình cảm của hắn với vợ

+ Thực chất bi kịch của Trọng thủy là ở chỗ : Hắn không thể là bề tôi hay một người con trái lệnh vua cha, nhưng đồng thời hăn cũng không muốn lãng quên tình vợ chồng. Hắn rắp tâm lừa dối phản bội vợ song lại muốn giữ trọn vẹn tình nghĩa vợ chồng

_ Việc Mị Châu cho Trọng Thủy xem nỏ thần, em hiểu như thế nào ?

+ Việc Mị Châu cho Trọng Thủy xem nỏ thần chỉ nên hiểu vì tin và yêu, vì tình vợ chồng mà mị Châu quên mất nghĩa vụ đối với đất nước

_ Em hiểu như thế nào về hinh ảnh ngọc trai – giếng nước ?

_ Bài học rút ra từ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

+ Phải luôn cảnh giác trước dã tâm xâm lược của kẻ thù

+ Phải biết giải quyết dúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân với quốc gia dân tộc

Bài 5 : Tấm Cám

_ Khái niệm về truyện cổ tích ? Đặc điểm phản ánh của truyện cổ tích thần kỳ. Đặc điểm đó được biểu hiện như thế nào trong Truyện Tấm Cám ?

*/ Khái niệm : 

Là câu chuyện hư cấu kể về số phận con người trong xã hội đã và đang phân chia giai cấp

*/ Đặc điểm phản ánh của truyện cổ tích thần kỳ:

_ Có sư tham gia của yếu tố thần kỳ

_ Có kết cấu phổ biến và thống nhất

_ Phản ánh mâu thuẫn gia đình và mâu thuẫn xã hội thông qua cuộc đấu tranh giữa thiện và ác

_ Qua truyện cổ tích thần kỳ người xưa nhằm giáo dục con người, đề cao cái thện và thể hiện ước mơ công lý của nhân dân .

*/ Dặc điểm đó được biểu hiện trong truyện Tâm Cám:

_ Truyện cổ tích Tấm Cám có sự tham gia của các yếu tố hoang đường : Bụt, sự hóa thân của Tấm thành chim vàng anh, thành cây xoan đào, thành khung cửi, thành quả thị

_ Truyện cổ tích Tấm Cám có kết cấu phổ biến và thống nhất : Tấm là con riêng (người thấp cổ bé họng), trải qua nhiều kiếp nạn (sự đầy đọa truy đuôi của mẹ con Cám), Tấm lại được hưởng hạnh phúc, làm hoàng hậu

_ Truyện cổ tích , cuộc đấu tranh giữa thiện và ác được thể hiện thông qua cuộc đấu tranh giữa Tấm và Cám, giữa con riêng và con chung

_ Qua truyện cổ tích Tấm Cám người xưa nhằm giáo dục con người, đề cao cái thện và thể hiện ước mơ công lý của nhân dân : Ở hiền sẽ gặp lành (như cô Tấm), ở ác sẽ gặp điều ác (như mẹ con Cám)

_ Trong truyện cổ tích Tấm Cám có những yếu tố kỳ ảo nào tham gia vào cốt truyện ? Những yếu tố đó có tác dụng như thế nào đối với diễn biến số phận của nhân vật Tấm ?

+ Yếu tó kỳ ảo còn gọi là lực lượng siêu nhiên. Chúng là sản phẩm của trí tượng tượng bay bổng của nhân dân. Đó có thể là nhân vật kỳ ảo, con vật kỳ ảo, vật thể kỳ ảo, và sự biến hóa kỳ ảo.

+ Trong truyện Tấm Cám có những yếu tố kỳ ảo sau tham gia vào cốt truyện : bụt, sự biến hóa của Tấm, chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị

+ Những yếu tố kì ảo đó góp phần quan trọng đối với diễn biến số phận của nhân vật Tấm . nếu thiếu các yếu tố này thì cốt truyện không thể phát triển được. ( Chẳng hạn Tấm ngã xuống ao mà chết hẳn thì buộc câu chuyện phải dừng lại, số phận của nhân vật Tấm không thể thay đổi, ước mơ của nhân dân trong cuộc đời không được thực hiện

_ Trong truyện Tấm Cám, Con đường đến hạnh phúc của Tấm không thể thiếu sự tham gia của bụt. Vậybụt là ai, có vai trò như thế nào trong cuộc đấu tranh của Tấm ?

 + Bụt là phật được dân gian hóa thành ông lão hiền lành tốt bụng , thường xuất hiện đúng lúc để thực hiện ước mơ của nhân dân: Những người hiền lành thật thà chăm chỉ như  cô Tấm phải được giúp đỡ, phải được hưởng hạnh phúc

_ Trong cuộc đấu tranh với mẹ con Cám, Tấm đã hóa thân bao nhiêu lần ? Em có nhận xét gì về sự hóa thân đó ?

+ Trong cuộc đấu tranh với mẹ con Cám, Tấm đã hóa thân : 4 lần, thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị

+ Ba lần đầu hóa thân của Tấm đẹp nhưng thụ động, vẫn lộ tiếng, oán trách, khiêu khích cái ác

+ Lần hóa thân sau : thành quả thị. Lần này Tấm đã biết im lặng chờ thời và tìm ra đối sách thích hợp…

_ Khi Tấm ở tình thế nguy nan, bụt lại không hiện về , Vì sao ?

+ Khi Tấm ở tình thế nguy nan, bụt lại không hiện về bởi lúc này Tấm đấu tranh để giành cuộc sống vương giả, hạnh phúc lứa đôi. Trong cuộc chiến nầy Nhân dân muốn công bằng, Tấm phải giành hạnh phúc bằng chính mồ hôi công sức của mình.

_ Trong sự trở về hoàng cung của Tấm có sự tham gia của miếng trầu cánh phượng. Vai trò của miếng trầu cánh phượng ?

+ Miếng trầu là hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa của người Việt

+ Miếng trầu cánh phượng thể hiện sự khéo léo, tinh tế của người têm trầu

+ Người bình dân muốn cô Tấm chiến thắng cái ác bằng chính đức hạnh của mình thông qua việc tề gia nội trợ; bằng chính tài năng tinh tế của người phụ nữ  : Miếng trầu cánh phượng

_ Em có nhận xét gì về cuộc đấu tranh của Tấm ? Qua truyện cổ tích này người xưa muốn gửi gắm điều gì ?

+ Cuộc đấu tranh giữa Tâm và Cám là cuộc đấu tranh giữ thiện và ác

+ Đây là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, nó diễn ra dưới mọi hình thức

Bài 6 : Truyện cười

_ _ Khái niệm về truyện cười ? Đặc điểm phản ánh của truyện cười. Đặc điểm đó , thể hiện như thế nào trong Nhưng nó phải bằng hai mày ?

_ Trong Tam đại con gà, tác giả dân gian cười điều gì ở anh học trò làm thày đồ ?

_ Các tình huống gây cười trong Tam đại con gà ?

_ Trong Nhưng nó phải bằng hai mày, tác giả dân gian cười điều gì ?

_ Trong Nhưng nó phải bằng hai mày, chi tiết nào làm cho anh chị thích thú và bật cười ? Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật gì để tạo nên chi tiêt hài hước độc đáo ấy?

B/ TIẾNG VIỆT

_ Thế nào là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ? Các nhân tố chi phối hoạt động giáo tiếp bằng ngôn ngữ

 _ Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết ?

C/ LÀM VĂN

_ Văn tự sự:

+ Nhập vai các nhân vật An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy, Tấm, Cám để kể chuyện

_ Văn nghị luận xã hội : An toàn giao thông, bảo vệ môi trường, tình bạn

­

 

 

TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM + KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM ( Clik)

Đề 1: Các bộ phận nào hợp thành nền văn học việt Nam ? Trình bày khái quát những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ nhất của nền văn học Việt Nam ?

*/ Các bộ phận nào hợp thành nền văn học việt Nam gồm : Văn học dân gian và văn học viết

*/ Những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ nhất của nền văn học Việt Nam ( văn học dân gian ) :

_ Văn học dân gian sáng tác theo phương thức : truyền miệng

_ Lực lượng sang tác của văn học dân gian là người bình dân

_ Về thể loại , văn học dân gian có 1 hệ thống thể loại đặc trưng như thân thoại, sử thi, truyền thuyêt, cô tích, ca dao dân ca, truyên cười …

_ Văn học dân gian có những đặc trưng tiêu biểu là : tính truyền miệng, tính tập thể và gắn bo mật thiết với sinh hoạt của cộng đồng

Đề 2 : Các bộ phận nào hợp thành nền văn học việt Nam ? Trình bày khái quát những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ hai của nền văn học Việt Nam ?

*/ Các bộ phận nào hợp thành nền văn học việt Nam gồm : Văn học dân gian và văn học viết

*/ Những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ hai của nền văn học Việt Nam(văn học viết )

_ Văn học viết sáng tác theo phương thức : ghi lại bằng văn tự

_ Lực lượng sang tác của văn học viết là những trí thức tài hoa

_ Về thể loại , văn học viết cũng có 1 hệ thống thể loại đặc trưng như văn xuôi tiểu thuyết, truyên ngắn, ký; thơ truyền thông và thơ hiện đại, …

_ Văn học viết có đặc trưng tiêu biểu là : mang đạm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo

Đề 3: Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học viết Việt Nam được chia ra làm mấy thời kỳ ?

Trình bày khái quát những hiểu biết của em về thời kỳ văn học thứ nhất ?

*/ Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học viết Việt Nam được chia ra làm 2 thời kỳ : Văn học trung đại và văn học hiện đại

*/ Những hiểu biết khái quát của em về thời kỳ văn học thứ nhất (văn học trung đại ) :

_ Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển từ thế kỷ X đến hết thế kì XIX

trong hình thái xã hội phong kiến

_ Văn học trung đại sử dụng chủ yếu 2 văn tự : chữ Hán và chữ Nôm

_ Văn học trung đại ảnh hưởng và giao lưu chủ yếu với văn hóa văn học phương Bắc ( Trung Quốc)

_ Nội dung cơ bản của văn học trung đại là cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự

_ Về hình thức nghệ thuật, nó mang tính qui phạm, sáng tác theo công thức, khuôn mẫu có sẵn

Đề 4 :  Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học viết Việt Nam được chia ra làm mấy thời kỳ ?

Trình bày khái quát những hiểu biết của em về thời kỳ văn học thứ hai ?

*/ Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học viết Việt Nam được chia ra làm 2 thời kỳ : Văn học trung đại và văn học hiện đại

*/ Những hiểu biết khái quát của em về thời kỳ văn học thứ hai (văn học hiện đại ) :

_ Văn học hiện đại Việt Nam hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX đến hết thế kì nay

trong hình thái xã hội thực dân phong kiến ở giai đoạn đầu và xã hội xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn sau

_ Văn học hiện đại sử dụng chủ yếu văn tự : chữ Quốc ngữ

_ Văn học hiện đại ảnh hưởng và giao lưu chủ yếu với văn hóa văn học Pháp ở giai đoạn đầu, với nhiều nước trên thế giới ở giai đoạn sau

_ Nội dung cơ bản của văn học hiện đại là cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo và ý thức về cái tôi cá nhân

_ Về hình thức nghệ thuật, nó mang tính hiện đại mang đậm phong cách cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật

 Đề 5 : Căn cứ vào hệ thống chữ viết, văn học trung đại Việt Nam được chia ra làm mấy bộ phận ?Trình bày khái quát những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ nhất ?

*/ Căn cứ vào hệ thống chữ viết, văn học trung đại Việt Nam được chia ra làm 2 bộ phận : Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm

*/ Những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ nhất ( Văn học viết bằng chữ Hán ) :

_ Bộ phận văn học chữ Hán được hình thành từ thế kỷ X, trong hình thái xã hội phong kiến

_ Vào nước ta thế kỷ X, nhưng phải đến TKX Chữ Hán mới được công nhận, văn học viết bằng chữ Hán mới hình thành và phát triển  là do nhu cầu xây dựng và phát triển chế độ phong kiến. Và sự cần thiết phải ghi chép lại những giá trị văn hóa tinh thân của dân tộc cho đời sau

_ Thành tựu mà văn học viết bằng chữ Hán để lại những tác giả tác phẩm sáng giá như  Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Bình Ngô đại cáo  của Nguyễn Trãi…Và cũng qua đó các học thuyết lơn của phương đông cũng như các thể loại của văn học Trung Quốc có điều kiện tràn vào làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc

Đề 6 : Căn cứ vào hệ thống chữ viết, văn học trung đại Việt Nam được chia ra làm mấy bộ phận ?Trình bày khái quát những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ hai ?

*/ Căn cứ vào hệ thống chữ viết, văn học trung đại Việt Nam được chia ra làm 2 bộ phận : Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm

*/ Những hiểu biết của em về bộ phận văn học thứ hai ( Văn học viết bằng chữ Nôm ) :

_ Chữ Nôm và văn học viết bằng  chữ Nôm  được hình thành từ thế kỷ XII, XIII trong hình thái xã hội phong kiến

_ Nó ra dời do như cầu phản ánh tâm tư tình cảm của nhân dân, do ý chí độc lập tự cường dân tộc của ch ông ta

_ Văn học viết bằng chữ Nôm phát triển mạnh từ thế kỷ XV và đạt tới đỉnh cao ở thế kỷ XVIII. Nó đã tạo ra được các thể thơ dân tộc ( lục bát, song thất lục bát, hát nói), và các tác gỉ tác phẩm nội tiếng Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương,Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến…

Đề 7 : Căn cứ vào hệ thống chữ viết, văn học trung đại Việt Nam được chia ra làm mấy bộ phận ? Chỉ ra những điểm giống và khác nhau của các bộ phận văn học này ?

*/ Căn cứ vào hệ thống chữ viết, văn học trung đại Việt Nam được chia ra làm 2 bộ phận : Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm

*/ Những điểm giống và khác nhau cơ bản của các bộ phận văn học này :

_ Điểm giống :

+ Cả 2 bộ phận văn học này đều tồn tại và phát triển trong hình thái xã hội phong kiến, đều đều do các trí thức nho học sáng tác trên cơ sở lý tưởng thẩm mĩ và bút pháp nghệ thuật mang màu sắc cổ điển

_ Điểm khác : ở văn tự, ở thể loại chủ yếu…

Đề 8 : Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học hiện đại Việt Nam được chia ra làm mấy thời kỳ ?Trình bày khái quát những hiểu biết của em về thời kỳ văn học thứ nhất của văn học hiện đại Việt Nam ?

*/ Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học hiện đại Việt Nam được chia ra làm 2 thời kỳ : trước cách mạng và sau cách mạng

*/ Những hiểu biết của em về thời kỳ văn học thứ nhất( Trước cách mạng : Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 ) :

_ Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 được viết bằng chữ Quốc ngữ

_ Nó tồn tại và phát triển trong hình thái xã hội thực dân phong kiến

_ Vùng ảnh hưởng của văn học giai đoạn này là các nước phương Tây trong đó chủ yếu là Pháp

_ Thành tựu của nó là đã tạo ra một nền văn học viết bằng chữ Quốc ngữ có nhiều công chúng nhất trong lịch sử. Nó có hệ thống thể loại mới không ngừng hoàn thiện, và số lượng tác giả tác phẩm qui mô chưa từng có.

Đề 9 : Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học hiện đại Việt Nam được chia ra làm mấy thời kỳ ?Trình bày khái quát những hiểu biết của em về thời kỳ văn học thứ hai của văn học hiện đại Việt Nam

*/ Căn cứ vào hình thái xã hội, văn học hiện đại Việt Nam được chia ra làm 2 thời kỳ : trước cách mạng và sau cách mạng

*/ Những hiểu biết của em về thời kỳ văn học thứ hai( Sau cách mạng : Văn học Việt Nam từ  Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay ) :

_ Từ sau Cách mạng tháng Tám, chữ Quốc ngữ trở thành văn tự chính thống của nền văn học

_ Văn học giai đoạn này tồn tại và phát triển trong hình thái xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

_ Vùng ảnh hưởng của văn học giai đoạn này có sự ảnh hưởng và giao lưu với tất cả các nước trên thế giới

_ Thành tựu của nó là đã tạo ra một nền văn học mới phát triển và hội nhập với văn học tjees giới

Đề 10 : Chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản của văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam ?

*/ Văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam có những điểm khác nhau cơ bản sau :

_ Văn học trung đại tồn tại và phát triển trong hình thái xã hội phong kiến, còn văn học hiện đại Việt Nam tồn tại và phát triển trong xã hội thực dân phong kiến ( trước cách mạng) và xã hội xã hội chủ nghĩa ( sau cách mạng)

_ Văn học trung đại viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, còn văn học hiện đại chủ yếu viết bằng chữ Quốc ngữ

_ Lý tưởng thẩm mĩ , bút pháp nghệ thuật của văn học trung đại mang màu sắc phong kiến, còn văn học hiện đại mang màu sắc hiện đại

_ Lượng lượng sáng tác của văn học trung đại là các trí thức nho học, còn văn học hiện đại là do các trí thức học chữ Quốc ngữ

_ Vùng giao lưu ảnh hưởng của văn học trung đại chủ yếu là phương Bắc, còn văn học hiện đại lại giao lưu với toàn thế giới…

Đề 11 :  Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ nào ? Vì sao văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với thiên nhiên ? Chỉ ra biểu hiện của nó trong văn học ?

*/ Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ : với thế giới tự nhiên, với quốc gia dân tộc, với quan hệ xã hội, với ý thức bản thân

*/ Văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với thiên nhiên là vì :

_ Con người luôn sống gắn bó với môi trường thiên nhiên quanh mình

_ Con người cũng luôn có nhu cầu nhận thức lý giải các hiện tượng thiên nhiên, bày tỏ tình cảm thái độ của mình với thiên nhiên.

*/ Biểu hiện trong văn học :

_ Phản ánh quá trình nhận thức, cỉ tạo và chinh phục thiên nhiên

_ Tích lũy những hiểu biết về thiên nhiên.

_ Giáo dục lòng tự hào và tình yêu đối với thiên nhiên.

Đề 12 :  Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ nào ? Vì sao văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với xã hội ? Chỉ ra biểu hiện của nó trong văn học ?

*/ Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ : với thế giới tự nhiên, với quốc gia dân tộc, với quan hệ xã hội, với ý thức bản thân

*/ Văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với xã hội là vì :

Con người được tập hợp tổ chức thành một xã hội với nhiều giai tầng khác nhau

*/ Biểu hiện trong văn học :

_ Tố cáo thế lực chuyên quyền

_ Bày tỏ sự cảm thông đối với người bị áp bức

_ Phơi bày những cảnh đời đau khổ của nhan dân

Đề 13 :  Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ nào? Vì sao văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với quốc gia dân tộc ? Chỉ ra biểu hiện của nó trong văn học ?

*/ Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ : với thế giới tự nhiên, với quốc gia dân tộc, với quan hệ xã hội, với ý thức bản thân

*/ Văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với quốc gia dân tộc là vì :

_ Dân tộc Việt Nam sớm có ý thức xây dựng quốc gia tự chủ

_ Dân tộc ta luôn phải đối mặt với các thế lực xâm lược lớn

*/ Biểu hiện trong văn học :

_ Yêu quê hương đất nước

_ Tự hào về truyền thống của dân tộc

_ Căm thù giặc ngoại xâm

_ Ca ngợi những tam gương yêu nước, dám xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc

Đề 14 :  Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ nào ? Vì sao văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với ý thức bản thân ? Chỉ ra biểu hiện của nó trong văn học ?

*/ Con người Việt Nam qua văn học được phản ảnh trong các mối quan hệ : với thế giới tự nhiên, với quốc gia dân tộc, với quan hệ xã hội, với ý thức bản thân

*/ Văn học Việt Nam lại phản ánh con người trong mối quan hệ với ý thức bản thân là vì :

_ Con người luôn biết tự nhận thức, tự xem xét đánh giá bản thân mình

_ Con người luôn hướng tới chân thiện mĩ

*/ Biểu hiện trong văn học :

 

Đề 15 : Sự khác nhau cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết ?

_ Văn học dân gian sáng tác theo phương thức truyền miệng, còn văn học viết sang tác thông qua văn tự

_  Văn học dân gian do người bình dân sáng tác, còn văn học viết do các trí thức tài hoa

_  Văn học dân gian có 1 hệ thống thể loại đặc trưng của riêng mình như : thân thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyeenh cười, ca dao dân ca…. Còn văn học viết cũng có 1 hệ thống thể loại đặc trưng của riêng : tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ cổ điển, thơ hiện đại…

_  Văn học dân gian có đặc trưng tiêu biểu : tính truyền miệng, tính tập thể, tính gắn bó bới sinh hoạt cộng đồng. Con văn học viết, đặc trưng tiêu biểu của nó là mang đậm dấu ân cá nhân của người sang tạo

Đề 16 : Văn học dân gian có những đặc trưng tiêu biểu nào ? Theo em thực chất quá trình truyền miệng của văn học dân gian diễn ra như thế nào ?

*/ Văn học dân gian có đặc trưng tiêu biểu : tính truyền miệng, tính tập thể, tính gắn bó với sinh hoạt cộng đồng.

*/ Thực chất quá trình truyền miệng của văn học dân gian là : sự ghi nhớ vào óc và phổ biến lại cho mọi người. Truyền miệng theo không gian là sự lan tỏa từ nơi này sang nơi khác. Truyền miệng theo thời gian là sự bảo lưu từ đời này sang đời khác từ thời đại này sang thời đại khác

Đề 17 : Văn học dân gian có những đặc trưng tiêu biêu nào ? Theo em thực chất quá trình sáng tạo tập thể của văn học dân gian diễn ra như thế nào ?

*/ Văn học dân gian có đặc trưng tiêu biểu : tính truyền miệng, tính tập thể, tính gắn bó với sinh hoạt cộng đồng.

*/ Thực chất quá trình sáng tạo tập thể của văn học dân gian là

_ Lúc đầu một người khởi xướng . Sau đó tập thể tiếp nhận bổ sung, gọt rũa và lưu truyền trở thành tác phẩm hoàn chỉnh như ngày nay. Vì thế văn học dan gian là tải sản chung của tập thể

Đề 18 : Văn học dân gian có những đặc trưng tiêu biểu nào ? Vì sao văn học dân gian lại gắn bó mật thiết với sinh họat cộng đồng ? Cho ví dụ ?

*/ Văn học dân gian có đặc trưng tiêu biểu : tính truyền miệng, tính tập thể, tính gắn bó với sinh hoạt cộng đồng

*/ Văn học dân gian lại gắn bó mật thiết với sinh họat cộng đồng là vì : sinh hoạt cộng đồng là nơi nảy sinh và truyền tụng văn học dân gian

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: