Phía trước là chân trời

VẤN ĐÁP 12

GIÚP EM ÔN THI HỌC KÌ 1

ÔN ĐÀN GHI TA CỦA LORCA (Clik )

ĐỀ 1/ Những hiểu biết của em về tác giả Thanh Thảo ?

1/ Tiểu sử

_ Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi.

_ Sau khi tốt nghiệp khoa ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở chiến trường miền Nam.

_ Từ sau năm 1975, ông chuyển sang hoạt động văn nghệ.

2/ Sự nghiệp:

_ Dấu chân qua trảng cỏ (thơ )

_ Khối vuông rubích (trường ca )

3/ Đề tài và đặc điểm phong cách

_ (Đề tài): Ông thường viết về chiến tranh và thời hậu chiến,

_ (Đặc điểm phong cách): Thơ của ông

+ Là tiếng nói của người trí thức nhiều suy tư trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại

+ Thanh Thảo cảm nhận và thể hiện cuộc sống ở bề sâu, khước từ lối biểu đạt dễ dãi

+ Ông luôn nỗ lực cách tân thơ Việt theo hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, xóa bỏ mọi ràng buộc, khuôn sáo bằng nhịp điệu bất thường để mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng khoáng nhằm đem đến cho thơ một mĩ cảm hiện đại, với hệ thống thi ảnh và ngôn từ mới mẻ

ĐỀ2/ Trình bày ngăn gọn xuất xứ chủ đề của bài thơ Đàn ghi ta của Lorca ?

*/ Xuất xứ (Hoàn cảnh ra đời) :

_ Bài thơ được rút trong tập Khối vuông Rubích là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo

_ Thanh Thảo đã chọn thời điểm bi phẫn nhất của cuộc đời Lorka cho cảm hứng của thi phẩm : lúc ông bị bắn chết. Hẳn suy tư Thanh Thảo đã bị vây ám giữa những phản trái kia của cái chết. Nhất là lúc nhà thơ đọc được cái câu như một lời nguyện cuối, một di chúc viết sớm của Lorca : Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi-ta. Và thế là thi phẩm đã tự chọn cho nó một hình hài : vừa là thơ viếng vừa như một bi ca

*/ Chủ đề :

Qua hình tượng lorca và tiếng đàn ghita, tác giả diễn tả cái chết bi tráng của người nghệ sĩ đấu tranh cho tự do và cách tân nghệ thuật, đồng thời bày tỏ sự tiếc thương, đồng cảm sâu sắc và niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp Lorca

VĂN BẢN

Những tiếng đàn bọt nước tiếng ghi -ta ròng ròng máu chảy

Tây-ban-nha áo choàng đỏ gắt không ai chôn cất tiếng đàn tiếng

li-la li-la li-la đàn như cỏ mọc hoang

đi lang thang về miền đơn độc giọt nước mắt vầng trăng

với vầng trăng chếnh choáng long lanh trong đáy giếng

trên yên ngựa mỏi mòn đường chỉ tay đã đứt

Tây-ban-nha hát nghêu ngao dòng sông rộng vô cùng

bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ Lorca bơi sang ngang

Lorca bị điệu về bãi bắn trên chiếc ghi ta màu bạc

chàng đi như người mộng du chàng ném lá bùa cô gái di -gan vào xoáy nước

tiếng ghi -ta nâu chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt

bầu trời cô gái ấy i -la li -la li -la…

tiếng ghi -ta lá xanh biết mấy ( Rút từ tập Khối vuông Rubích (Thanh Thảo),

tiếng ghi -ta tròn bọt nước vỡ tan NXB Tác phẩm mới, 1985 )

ĐỀ3/ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”vừa là di chúc sớm của Lorca vừa là lời đề từ cho thi phẩm của Thanh Thảo. Anh chị hiểu câu nói trên như thế nào ?

“Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”, lời đề từ này như một thứ chìa khóa ngầm hướng người đọc tới thông điệp thực sự của bài thơ : Nhưng tại sao Lorca không nói: Hãy chôn cây đàn với tôi mà lại nói hãy chôn tôi với cây đàn ? Lorca yêu quê hương, Lorca yêu nghệ thuật. Đó là những điều dễ nhận ra. Chàng là thần tượng của biết bao người yêu nhạc, kể cả những người chưa một làn nâng phím.và nhà thơ mong muốn mình theo cây đàn ấy chứ không phải cây đàn phải theo mình :

_ Dường như trong câu nói của mình, Lorca đã đặt nghệ thuật lên trên tất cả, bản thân, sự sống. Đó là tình yêu say đắm của Lorca với nghệ thuật

Nhưng không chỉ có vậy, nếu ghita biểu tượng của đất nước Tây Ban Nha thì câu nói ấy

_ Nó còn là tình yêu tha thiết với quê hương xứ sở Tây ban cầm

Ai không muốn tên tuổi mình còn mãi? Có người nghệ sỹ nào không mong nghệ thuật của mình toả sáng muôn đời. Là một nhà tư tưởng với phương châm cách tân nghệ thuật, Lorca biết rằng một ngày nào đó, chính nghệ thuật của chàng_ sức mạnh để chàng chiến đấu với cái cũ hôm nay_ cũng sẽ là cái cũ của ngày mai. Nó sẽ ngăn cản những người đi sau trong sáng tác nghệ thuật. Nên

_ Sâu xa hơn, cao hơn cả câu nói đó còn là thông điệp của nhà thơ : Hãy chôn lấp những gì đã cũ, hãy thoát khỏi con đường mòn để làm nên những cái mới, sáng tạo lên nghệ thuật thực sự

Đó là ý nguyện, là lời dăn lại của nhà thơ đối với thế hệ tương lai. Đó cũng là tấm lòng cao thượng, sự hy sinh của người nghệ sĩ chân chính hết lòng vì sự nghiệp cách tân nghệ thuật.

ĐỀ4/ Lorca được nhà thơ giới thiệu bằng những hình ảnh nào ? Có gì độc đáo đáng chú ý ?

_ Lorca được giới thiệu bằng những nét chấm phá có tính chất tiêu biểu của một nhạc sĩ thiên tài : “tiếng đàn bọt nước”, “áo choàng đỏ gắt”, giai điệu âm nhạc “li – la li – la li – la, “vầng trăng chếnh choáng”, “yên ngựa mỏi mòn”. “đi lang thang về miền đơn độc”…

_ Các hình ảnh trên đều tượng trưng cho am nhạc, cho đất nước Tây Ban Nha – xứ sở của đàn ghi ta và môn đấu bò tót

_ Vì thế nó khiến người đọc lien tưởng đến đất nước Tây Ban Nha thời Lorca như một đấu trường lớn giữa khát vọng cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật già nua, giữ khát vọng tự do dân chủ của công dân – nghệ sĩ Lorca với nền chính trị độc tài.

ĐỀ 5 / Cái chết của Lorca được khắc họa bằng những chi tiết nào ? Cảm nhận của anh (chị) về cái chết ấy ?

_ Cái chết của Lorca được khắc họa bằng chi tiết “áo choàng bê bết đỏ” và tiếng ghi ta “ròng ròng máu chảy”.

_ Cái chết của Lorca là cái chết bi tráng, đột ngột khiến cả đất nước Tây Ban Nha “kinh hoàng”. Lorca bị giết hại, tiếng đàn tượng trưng cho khát vọng tự do, và tình yêu sự sống đã “tan vỡ”, “ròng ròng máu chảy”.

ĐỀ 6/ Trong chín câu thơ cuối, tác giả nhắc đến những hình ảnh nào ? Điều đó gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì ?

_ Trong chín câu thơ cuối, tác giả nhắc đến những hình ảnh “đường chỉ tay đã đứt”, “dòng sông”, “Lorca bơi sang ngang, trên chiếc ghi ta màu bạc”, “chàng ném lá bùa cô gái Digan, vào xoáy nước, chàng ném trái tim mình, vào lặng yên bất chợt” . Câu cuối cùng là âm hưởng của tiếng đàn “li la li la li la”

_ Điều đó gợi cho ta nhiều suy nghĩ :

+ Các hình ảnh trên đều có ý nghĩa tượng trưng. Điều đáng chú ý là tuy nói về việc Lorca bị xử bắn, nhưng tác giả không một lần sử dụng từ “chết”.

+ “Đường chỉ tay đã đứt” như là sự chấm dứt đột ngột của số phận một nghệ sĩ thiên tài.

+ Nhưng Lorca không chết, chàng bơi sang ngang dòng sông cuộc đời và cũng là dòng sông thời gian trên chiếc ghi ta màu bạc.

+ Chàng chủ động rời bỏ “ném lá bùa cô gái Digan” như là sự chủ động rời bỏ những hệ lụy của cuộc đời.

+ Chàng chủ động ném trái tim sôi nổi nhiệt huyết của mình vào “lặng yên bất chợt”. Phải chăng cái chết chỉ có thể làm cho tiếng đàn của Lorca “lặng yên” trong khoảnh khắc để rồi sau đó nó vẫn vâng ngân như khi chàng còn sống: lila lila lila

Tiếng đàn còn vang mãi trong lòng mọi người… Lorca sống mãi

ĐỀ 7/ Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ ?

Mỗi tác phẩm nghệ phẩm là một sản phẩm không lặp lại. Nó như tia lửa một lần loé sáng, không lặp lại. Không chỉ nội dung, mà ngay cả hình thức. Thanh Thảo đã có được điều đó nhờ vốn sống, vốn văn hoá cùng kinh nghiệm nghệ thuật. Ông đã

*/ Viết về Lorca bằng những thi liệu rất ám ảnh trong thế giới nghệ thuật của chính Lorca,

*/ Trong xử lý thi liệu, nghệ thuật tượng trưng được sử dụng với tần số cao

*/ Còn mạch triển khai của thi phẩm lại là hợp lưu của cả hai dòng tự sự và nhạc.

_ Thanh Thảo có lối diễn đạt câu thơ không viết hoa đầu dòng, tạo mạch thơ liên tục, xâu chuỗi với nhau để nối kết các biểu tượng đầy sức ám ảnh :

_ Bài thơ là sự hợp lưu của cả hai dòng tự sự và nhạc

+ Sự kiện Lorca bị hành hình vào bài thơ này đã dàn thành bốn phần nội dung với những khúc có dụng ý hẳn hoi về độ dài và tiết tấu nhịp điệu

+ Thú vị và bất ngờ nhất là việc khảm vào mạch ấy những âm thanh như cách diễn tấu của nhạc công khi đệm cho người hát một ca khúc.

ĐỀ 8/ Sự thú vị và bất ngờ của bài thơ là ở việc Thanh Thảo đã khảm vào mạch tự sự của bài thơ những chuối âm thanh. Theo em những chuỗi âm thanh này có ý nghĩ như thế nào ?

_ Ngay sau hai câu mào đầu đó là chuỗi âm thanh li-la li-la li-la. Nó như một chuỗi nốt đàn buông do người đệm đàn (ghi ta) lướt qua hàng dây để kết thúc phần dạo, đánh dấu khoảng ngắt cho người hát chính thức bắt lời trình diễn ca khúc.

_ Và thi phẩm cũng kết thúc bằng sự trở lại của chuỗi âm thanh ấy. Nó tựa những tiếng đàn đệm cuối cùng nhằm tạo những dư âm sau khi lời hát đã ngừng.

→ Sự có mặt của hai chuỗi li-la li-la li-la ở phần đầu và phần kết ngãu hứng mà đầy xao xuyến đầy thi vị

→ Việc nhập cấu trúc ca khúc vào với cốt tự sự để chúng đồng thể với nhau hỗ trợ cho viẹc bộ lộ chất thơ.

 

 

HỎI – ĐẤP GIỮA KỲ I – GIÚP EM ÔN THI GIỮ KỲ I  

Đề 1 : Những chặng đường phát triển văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 ? Nêu những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 ?

*/ Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 đã trải qua 3 chặng đường phát triển

_ Chặng đường từ 1945 – 1954 :  Những năm đầu sau CM/8 : VH ca ngợi Tổ Quốc , ca ngợi quần chúng, Cách mạng, không khí đặc biệt phấn khởi của nhân dân khi ĐN giành được ĐL. Từ năm 1946, VH tập trung phản ánh cuộc K/C chống Pháp, văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến, khám phá sức mạnh và những  p/chất tốt đẹp của n/dân; Thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào tương lai

_ Chặng đường từ 1954 – 1964 :  Tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng CNXH bằng cảm hứng lãng mạn tràn đầy niềm vui niềm lạc quan …

_ Chặng đường từ 1965 – 1975  _ Tập trung  khai thác đề tài chống Mĩ cứu  nước; ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa aanh hùng  Cách mạng

*/ Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 :

Văn học Việt Nam vận động theo hướng cách mạng hóa,gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

_ Nền văn học hướng về đại chúng

Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Đ 2 : Quan đim sáng tác và đc đim phong cách văn chương ca Nguyn Ái Quc – H Chí Minh ?

*/ Quan điểm sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh :

_ Hồ Chí Minh coi văn chương là vũ khí lợi hại phụng sự cách mạng

_ Người cũng luôn chú trọng tính chân thực và tinh dân tộc của văn học

_ Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm

*/ Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh :

_ Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng,phong phú mà thống nhất. Ở thể loại văn học nào, Người đều tạo được những nét phong cách riêng độc đáo và hấp dẫn .

_ Thơ văn của Hồ chí Minh kết hợp nhuần nhuyễn và sâu sắc quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. _ Văn chính luận của Người giàu tri thức văn hóa, giàu tính chiến đấu,  ngắn gọn, súc tích, lập luận sắc sảo, chặt chẽ.

_ Truyện và kí của Hồ Chí Minh là những tác phẩm mở đàu, đặt nền móng cho văn xuôi cách mạng. Lời kể chuyện linh hoạt, giọng điệu uyển chuyển, giàu trí tuệ và rát hiện đại.

_ Thơ ca của Người hàm súc, uyên thâm, giàu tính nghệ thuật, mang đậm phong vị cổ điển mà vẫn hiện đại

è Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh rất đa dạng, phong phú về nội dung, thể loại nhưng thống nhất cách viết ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ thuật nghệ thuật nhằm thể hiện sâu sắc nhất tư tưởng tình cảm của người cầm bút

Đề 3 : Hoàn cảnh ra đời, đối tượng, mục đích hướng tới của bản Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh ) ?

*/ Hoàn cảnh ra đời của Tuyên ngôn Độc lập :

_ Nhật đầu hàng Đồng minh . Chiến tranh thế giới lần II kết thúc.

_ Ngày 19/8/1945 chính quyền Hà Nội về tay nhân dân.Nhưng bè lũ đế quốc Pháp Mĩ lăm le xâm lược Việt Nam

_ 26/8, Tại căn nhà 48  Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập

_ 2/9/45 tại Quảng trường Ba Đình Người đọc Tuyên Ngôn Độc Lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa

*/ Đối tượng hướng tới của vản Tuyên ngôn Độc lập  :

_ Nhân dân Việt Nam

_ Nhân dân thế giới ( công luận quốc tế)

_ Bè lũ đế quốc thực dân

*/ Mục đích hướng tới của vản Tuyên ngôn Độc lập :

_ Tuyên bố nền Độc lập chủ quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

_ Đập tan luận điệu xảo trá, âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp

 

Đề 4 : Để xác định cơ sở pháp lý cho bản Tuyên ngôn Độc Lập, Bác đã trích dẫn 2 câu nói nổi tiếng trong 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng của Mĩ và Pháp. Nêu chính xác 2 câu trích dẫn ấy ? Việc trích dẫn trên có ý nghĩa như thế nào ?

*/ Hai câu trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng :

– Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ : “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

– Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

*/ Việc trích dẫn trên của Bác có ý nghĩa là :

+ Từ lẽ phải – chân lí chung của nhân loại, Bác đã không chỉ xác định cơ sở pháp lí vững chắc cho bản Tuyên ngôn Độc lập của mình : đó là quyền Độc lập tự do của các dân tộc

+ Mà Bác đã khéo léo và kiên quyết khẳng định quyền Độc lập của dân tộc Việt Nam bằng chính lời lẽ của cha ông chúng, nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng

+Qua việc trích dẫn trên, Bác đã đặt ba cuộc cách mạng ngang nhau, ba nền độc lập ngang nhau. Từ đó nâng tầm vóc của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam

 

Đề 5 : Phần cuối của bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác tuyên bố những gì  ( nêu dẫn chứng cụ thể ) ? Chỉ ra tài lập luận của Bác ?

*/ Phần cuối của bản tuyên ngôn Bác tuyên bố :

_ Tuyên bố thoát li hẳn mọi quan hệ với Pháp

_ Tuyên bố Độc lập chủ quyên của nước Việt Nam mới, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

(dẫn chứng cụ thể )

* / Tài lập luận của Bác là ở chỗ :

_ Trước khi tuyên bố thành lập một nhà nước mới, Tác giả đã đanh thép và triệt để tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ tất mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam”.

_ Sau đó Người dùng lời nói của các nước đồng minh để khéo léo thắt buộc họ phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam

_ Trên cơ sở lý lẽ vũng chắc đó, Hồ Chí Minh đanh thép tuyên bố Độc lập chủ quyên của nước Việt Nam mới

 

Đề 6 :  Những hiểu biết của em về tác giả Quang Dũng ? Hoàn cảnh và chủ đê của bài thơ Tây Tiến ( Quang Dũng )

*/ Những hiểu biết của em về tác giả Quang Dũng :

Sinh năn 1921, mất năm1988. Tên thật là Bùi Dình Diệm, người

làng Phượng Trì huyện Đan Phượng, Hà Tây

–   Học hết trung học ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, tham gia quân đội, sau đó công tác tại nhà xuất bản Văn học.

–  Là một nghệ sĩ có nhiều tài năng. Thơ của ông trung hậu yêu tha thiết quê hương đất nước mình.

–  Cái tôi trong thơ Quang Dũng hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn

–  Quang Dũng có khả năng cảm nhận và diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên của con người một cách tài hoa tinh tế nhưng cũng rất mực bình dị chân thành.

_ Tên tuổi của ông gắn liền với bài thơ Tây Tiến, một đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp

*/ Hoàn cảnh ra đời

–   Cuối năm1947 Quang Dũng ra nhập đoàn quân Tây tiến, tham gia phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt

–  Địa bàn hoạt động của Đoàn quân khá rộng : Mai Châu, Mộc Châu,Sầm Nứa rồi vòng về miền tây Thanh Hoá.

–  Phần đông họ là những thanh niên trí thức Hà Nội, sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn gian khổ, đánh trận thương vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng họ vẫn chiến đấu rất dũng cảm, vẫn lạc quan yêu đời.

– Cuối năm1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh(Hà Đông cũ), ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau in lại năm 1975, ông bỏ chữ “Nhớ”.

*/ Chủ đề : Bài thơ là nỗi nhớ niềm tự hào của tác giả đối với đoàn binh Tây Tiến.

Đề 7 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Sông Mã … xa khơi”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Sông Mã …chơi vơi” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Sông Mã … xa khơi”:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm ơi

Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

*/ Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Sông Mã …chơi vơi” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

_ Hai câu thơ trên thuộc phần 1 : Tây Bắc hung vĩ và dữ dội qua nỗi nhớ của tác giả

_ Và Tây Bắc hiện lên trước hết qua hình ảnh sông Mã :

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Con sông cuồn cuộn chảy giữa những ngày gian truân vất vả của người chiến sĩ Tây Tiến. Nay đã “xa rồi”, đã là quá khứ rồi, nhưng nỗi nhớ thì vẫn chơi vơi:

_“Nhớ chơi vơi”àlà nỗi nhớ không định hình, khó nắm bắt, khó diễn tả bằng lời.

Nỗi nhớ ấy vừa bao la bát ngát lại vừa có chiêu sâu như xoáy vào lòng người.     Tiếng gọi

_“Tây Tiến ơi” vang lên thân thiết như tiếng gọi người thân.

_ Từ cảm “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng tha thiết sâu lắng bồi hồi ngân dài trong lòng người vọng vào thời gian, lan rộng trong không gian

_ Hai tiếng “Xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ hô ứng với điệp từ “nhớ”ở câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây.

Đề 8:  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Sông Mã … xa khơi”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Sài Khao …đêm hơi” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Sông Mã … xa khơi”:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm ơi

Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

*/ Phân tích ngắn gọn hai câu thơ  “Sài Khao …đêm hơi”

_  Tây Bác hùng vĩ và dữ dội không chỉ dược hiện lên qua hình ảnh con sông Mã mà no còn được nhớ đến qua những tên bản tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương 

                                    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

                                     Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Và cả những khổ dưới, ta thấy xuất hiện Pha Luông Mường Hịch, Mai Châu

+ Đó là những địa danh không chỉ gợi nên bao nhớ thương vơi đầy mà nó còn để lại những ấn tượng đậm nét về một miền xa xôi heo hút thâm sơn cùng cốc,

+ Và gắn với những địa danh ấy là địa bàn hoạt động gian khổ vất vả của đoàn binh Tây Tiến .

Họ đi trong “sương lấp”, trong “đêm hơi”

+ Hình ảnh “ sương lấp đoàn quân mỏi” gợi cho người đọc một sự liên tưởng đoàn quân Tây Tiến đi giữa biển sương mù của núi rừng. Họ như bị lấp đi, bị che đi bởi sương hay họ cũng đang bị trĩu xuống trong sự mệt mỏi vì sự khắc nghiệt của thời tiết. Câu thơ gợi cảm giác lạnh lùng, nặng nề, đe doạ.

+ Nhưng hình ảnh “ hoa về trong đêm hơi”, vẫn là sương mù của núi rừng, vẫn là thời tiết khắc nghiệt  nhưng lại diễn tả một trạng thái lâng lâng của cái mệt mỏi gian khổ đã được vượt qua, đã được tiêu tan.

 Câu thơ gồm sáu thanh bằng liên tiếp, diễn tả cái nhẹ nhàng cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đã đi tới đích sau chặng đường dài hành quân đầy thử thách.

 

Đề 9 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Dốc lên  … trêu người”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Dốc lên …ngửi trời” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Dốc lên  … trêu người”:

“Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên sung mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

*/  Phân tích ngắn gọn 2 câu thơ sau : “Dốc lên …ngửi trời”

Nhớ chiến trường xưa, Quang Dũng không chỉ nhớ về dòng sông Mã cuồn cuộn chảy, nhớ tới những địa danh vời vợi nghìn trùng, mà trong tâm tưởng của nhà thơ Tây Bắc còn sống động qua thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội

Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Câu thơ hun hút đi lên theo chiều cao của núi rừng

+ Dốc : Dốc lên thì khúc khuỷu gập ghềnh – Dốc xuống thì thăm thẳm như dẫn đến vực sâu Câu thơ có 5/7 là thanh trắc kết hợp với một loạt từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) gợi cho người đọc cảm giác gồ ghề, lồi lõm, gập ghềnh, cheo leo hiểm trở của dốc núi.

 Đó chính là sự gian khổ mà người lính phải vượt qua. Còn

_ Đỉnh núi: mù sương cao vút, núi cao tưởng chừng như chạm tới mây : Cồn mây – Súng ngửi trời. Mây và sương mù tụ lại thành cồn heo hút, người lính đi trên những ngọn núi cao ấy như đi trên những cồn mây, mũi súng như ngửi trời, như chạm tới đỉnh trời. Mũi súng của người chiến sĩ đã được nhân cách hoá đầy chất lính nhưng cũng thật ngộ nghĩnh hồn nhiên yêu đời.

Hình ảnh đó khiến ta liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu.Tại đây ,cái đẹp của thiên nhiên và con người đã gặp chỗ tương đồng. Thiên nhiên và con người đã trở nên thân thiết đến mức khó tin . Đó chính là vẻ đẹp nên thơ lãng mạn và hết sức hào hùng.

Núi tiếp núi, đèo tiếp đèo, hết lên cao lại xuống thấp như thử thách lòng người. Và giữa hai vách núi dựng đứng là :

_ Vực thẳm : “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”è Câu thơ được tạo bởi hai vế tiểu đối, kết hợp với nhịp thơ bị bẻ đôi  gấp khúc như diễn tả dốc núi vút lên đổ xuống gần như thẳng đứng.

Đề 10 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Dốc lên  … trêu người”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Chiều chiều …cọp trêu người” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Dốc lên  … trêu người”:

“Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên sung mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

*/  Phân tích ngắn gọn 2 câu thơ sau : “Chiều chiều …trêu người” ?

_ Trong nỗi nhớ của Quang Dũng, Tây Bắc không chỉ hùng vĩ và dữ dội mà thiên nhiên nơi đây còn rất hoang sơ và bí ẩn đến rợn người :

                       “Chiều chiều oai linh thác gầm thét

                    Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người”

+ Chiều chiều rồi đêm đêm thác gầm thét cọp trêu người”

 + Đó là những âm thanh khẳng định cái bí ẩn, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng luôn vang động.

+ Những sức mạnh bí ẩn đó đã được nhà thơ nhân cách hoá để tăng thêm phần dữ dội của thiên nhiên.

 

Đề 11 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Anh bạn  … nếp xôi”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Anh bạn …bỏ quên đời” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Anh bạn  … nếp xôi”.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên sung mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

*/ Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Anh bạn …bỏ quên đời” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

_ Trong nỗi nhớ của Quang Dũng Tây Bắc không chỉ hùng vĩ và dữ đội mà gắn với nó còn là những nẻo đường trường chinh đầy gian khổ và máu lửa của người lính Tây Tiến,

_  Trên đường hành quân ấy,không chỉ có sự đe dọa của thiên nhiên khắc nghiệt mà các anh có thể phải hy sinh cả tính mạng của mình. Có anh đã không bao giờ còn được nhìn thấy làng quê người thân :

                                         Anh bạn dãi dầu không bước nữa

                                          Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

+ Hai tiếng “anh bạn” cất lên như một tiếng khóc thầm.

+ Bốn chữ “gục lên súng mũ” thể hiện sự hy sinh vô cùng bi tráng. Anh ngã xuống trên đường hành quân giữa trận đánh, đầu gục lên súng mũ như đang trầm tư mơ mộng về Hà Nội. Dáng nằm của anh thật thanh thản nhẹ nhàng.         Mặc dù

+ Quang Dũng đã thay từ “chết” từ “hy sinh” bằng những từ “không bước nữa”, “gục”, “bỏ quên đời”, nói cách khác là tác giả đã sử dụng cách nói giảm nhưng lòng người đọc vẫn không khỏi trào lên bao nỗi xót xa thương tiếc.

Hiện thực chiến tranh xưa nay vẫn thế, sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu của các anh đổ xuống để xây đài tự do. Có điều là vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưng không gợi ra sự bi luỵ thảm thương mà trái lại trong sự tiếc thương đó còn có sự tự hào, sự khẳng định.

 

Đề 12 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Anh bạn  … nếp xôi”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ “Nhớ ôi …nếp xôi” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Anh bạn  … nếp xôi”.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên sung mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

*/ Phân tích 2 câu thơ  sau: “ Nhớ ôi… nếp xôi” (Tây Tiến – Quang Dũng ):

_ Vượt lên trên những gian khổ hy sinh, hành trang của người lính  đầy ắp những kỷ niệm đẹp về tình quân dân.       Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói                                  

                                    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

+“Nhớ ôi”, đó là tình cảm dạt dào, là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến.

+“Cơm lên khói” gợi ra cảnh tượng đầm ấm của tình quân dân.

Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng vượt núi lội suối trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, nghỉ ngơi ở một bản nào đó, quây quần bên nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm của lúa nếp ngay mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt người lính.

+ Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo trong ngôn từ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ ơn sâu nghĩa nặng của người lính đối với bà con  dân bản.

Và như thế, bên cạnh núi rừng hiểm trở với độ cao rợn người là mái nhà thấp thoáng ẩn hiện trong làn mưa mỏng nơi lưng chừng núi; bên cạnh vùng đất hoang dại chứa đầy bị mật ghê gớm của rừng thiêng với thác gầm thét, cọp trêu người là một bản làng có cơm lên khói, có mùi thơm của cơm nếp xôi và những cô gái xinh đẹp như những bông hoa rừng. Đây là khung cảnh thực của chiến trường Tây Tiến đã được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, hào hoa của những anh lính người Hà nội

Đề 13 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Doanh trại  … đong đưa”.

Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ “Doanh trại …hồn thơ” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng từ “Doanh trại … đong đưa”     

                                                     Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

                                                      Kìa em xiêm áo tự bao giờ

                                                      Khèn lên man điệu nàng e ấp

                                                      Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

                                                       Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                                      Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                                      Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                                     Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

*/  Phân tích ngắn gọn 4 câu thơ sau : “Doanh trại …hồn thơ”(Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

_ Nếu ở đoạn một nét vẽ chủ đạo là bạo, khoẻ, gân guốc thì đoạn hai lại được thay thế bằng những nét vẽ mềm mại uyển chuyển tinh tế.Và Tây Bắc mĩ lệ và duyên dáng  đượchiện lên trước hết qua đêm hội đuốc hoa                                         

                                                    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

                                                      Kìa em xiêm áo tự bao giờ

                                                      Khèn lên man điệu nàng e ấp

                                                      Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

 

+ Chữ bừng như một nét vẽ có thần. Bừng vừa chỉ cường độ ánh sáng vừa chỉ cường độ của âm thanh. Bừng là sáng bừng lên, cháy rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm hội đuốc hoa. Bừng cũng có nghĩa là tưng bừng rộn ràng qua tiếng khèn man điệu, qua giọng nói cười tình tứ say mê.

Hai tiếng

+ “Kìa em” là đại từ chỉ trỏ từ xa, vừa thể hiện cái nhìn ngỡ ngàng ngạc nhiên vừa như một tiếng reo vui sung sướng khi những nhân vật trung tâm của đêm hội bất ngờ xuất hiện trong xiêm áo lộng lẫy, trong vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ.

Dường như trong ánh sáng lung linh bập bùng của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cảnh vật và con người đều ngả nghiêng , đều bốc men say ngây ngất rạo rực.

 

Đề 14 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Doanh trại  … đong đưa”.

Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ “Người đi  …đong đưa” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng từ “Doanh trại … đong đưa”     

                                                     Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

                                                      Kìa em xiêm áo tự bao giờ

                                                      Khèn lên man điệu nàng e ấp

                                                      Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

                                                       Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                                      Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                                      Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                                     Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

*/  Phân tích ngắn gọn 4 câu thơ sau : “Người đi …đong đưa”(Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

_ Cái mỹ lệ của Tây Bắc còn được tác giả gợi tả qua một chiều sương trên sông nước mênh mang hư ảo :

                                    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                    Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

+ Châu Mộc chiều sương : Đó là không gian mang đậm màu sắc huyền thoại. Dòng sông trong một buổi chiều sương giăng mắc. Sông nước, đôi bờ  lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử.

+ Trên dòng sông huyền thoại ấy nổi bật lên “dáng người trên độc mộc”, “hoa đong đưa” Đó là hình dáng mềm mại uyển chuyển của người cầm lái trên chiếc thuyền độc mộc cùng hồn lau và hoa đong đưa làm duyên bên dòng nước lũ. Tất cả, người và cảnh đều hài hoà duyên dáng thơ mộng.

→Ngòi bút của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Ông không tả cây lau mà chỉ gợi hồn lau. Không nhớ  con người Châu Mộc mà nhớ dáng vóc mềm mại của họ in bóng trên sông nước. Không nhớ những bông hoa mà tác giả chỉ nhớ cái ngả nghiêng đong đưa tình tứ của những bông hoa rừng.

→ Qua vài nét loáng thoáng, cảnh vật trong thơ Quang Dũng như có hồn. Nhà thơ không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi ra được cái phần thiêng liêng của cảnh vật

→Cách tự hỏi “có nhớ”, “có thấy” của tác giả đã tạo cho âm hưởng  của khổ thơ man mác bâng khuâng như đang ru hồn ta vào cõi mộng. Chất nhạc, chất hoạ, chất thơ cũng toát ra từ đó.

→ Và cũng qua đây ta càng hiểu thêm vẻ đẹp trong tâm hồn của các chiến sĩ Tây Tiến : Trong gian khổ và thử thách, trong gian truân và chết chóc, họ vẫn lạc quan yêu đời, hồn nhiên và thơ mộng.

Đề 15 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

Phân tích ngắn gọn làm nổi bật ngoại hình – diện mạo của người lính Tây Tiến, ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng  đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

                                   Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                   Quân xanh màu lá dữ oai hùm

                                    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

                                   Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

                                   Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

                                   Áo bào thay chiếu anh về đất

                                    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

*/  Phân tích làm nổi bật diện mạo của người lính Tây Tiến (Tây Tiến – Quang Dũng )

_ Trên cái nền hùng vĩ hiểm trở dữ dội của núi rừng (ở đoạn 1), cái duyên dáng thơ mộng mỹ lệ của Tây Bắc (ở đoạn 2), đến đoạn 3 hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với vẻ đẹp đầy tính bi tráng qua diện mạo của họ

                                        Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                          Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

_ Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường hay đề cập đến căn bệnh sốt rét  hiểm nghèo. Quang Dũng trong “Tây Tiến” cũng không hề che dấu những gian khổ khó khăn, và sự hy sinh lớn lao của người lính. Chỉ có điều tất cả những cái đó không hiện ra một cách trần trụi, mà nó được nhà thơ phản ánh qua cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn.

+  Đoàn binh không mọc tóc là đoàn binh với những người lính đầu trọc lốc.Lời thơ như tếu, như đùa, nhưng chứa đựng trong đó là sự thật nghiệt ngã : các chiến sĩ Tây Tiến người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng cả tóc.

+ Còn hình ảnh  “quân xanh màu lá” là nhà thơ muốn nói đến căn bệnh sốt rét rừng. Những ngày đói ăn, thiếu mặc cùng căn bệnh sốt rét đã làm các anh tóc rụng da xanh tiều tụy

Và như thế với hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá”Quang Dũng đã phản ánh cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng ngọn tầm vông chống lại sắt thép quân thù.

 

Đề 16 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

Phân tích ngắn gọn làm nổi bật sức mạnh tinh thần phi thường và nét hào hoa thơ mộng của người lính Tây Tiến, ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng  đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

                                   Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                   Quân xanh màu lá dữ oai hùm

                                    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

                                   Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

                                   Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

                                   Áo bào thay chiếu anh về đất

                                    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

*/ Phân tích làm nổi bật sức mạnh tinh thần phi thường và nét hào hoa thơ mộng của người lính Tây Tiến ( Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

_ Người lính Tây Tiến có thể ốm nhưng không yếu. Ở họ toát lên sức mạnh tinh thần phi thường. Đoàn binh ấy có thể“không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” nhưng họ vẫn :

+“dữ oai hùm”,dữ dằn oai phong như hổ. Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” đã nói lên chí khí hiên ngang tinh thần quả cảm. Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản. Quang Dũng đã lấy cái thô, cái mộc để tô đậm cái oai phong cái dữ dằn của người lính Tây Tiến.

 Và sự dữ dằn ấy còn được thể hiện qua ánh mắt :

+“Mắt trừng”. Đó là ánh mắt giận dữ, dữ dội, nẩy lửa đầy áp đảo đối với kẻ thù.

Như vậy chỉ với mấy câu thơ, tác giả đã chạm khắc vào lịch sử hình ảnh đoàn quân phi thường độc đáo có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca.

_ Không chỉ có sức mạnh phi thường các anh còn có đời sống nội tâm phong phú : hào hoa mơ mộng :

+ Họ không phải là những người khổng lồ không tim. Nên họ cũng có những mộng mơ thật đẹp : “mộng qua biên giới” : mộng tiêu diệt kẻ thù bảo vệ biên cương, mộng lập nên chiến công nêu cao truyền thống anh hùng.

+ Còn mơ, họ “Mơ về Hà Nội dáng kiều thơm”.→Mơ tới những tà áo trắng những thiếu nữ thân quen nơi trường xưa phố cũ.

Chiến sĩ Tây Tiến vốn là các sinh siên Hà thành xếp bút nghiên theo việc cung kiếm, giàu lòng yêu nước nhưng cũng rất độ hào hoa Trong trái tim mỗi người ra trận, làm sao có thể quên được những hàng me hàng sấu. Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thân quen.

→Đó là vầng những sáng lung linh trong trái tim người lính trẻ Và chính vầng sáng lung linh ấy  đã tạo nên sự cân bằng thư thái trong tâm hồn họ sau mỗi chặng đường hành binh vất vả. Nó không làm thối chí nản lòng các anh mà ngược lại nó như làm tăng thêm sức mạnh, tăng thêm nhiệt tình cách mạng.

 

Đề 17 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ sau : “Rải rác …đời xanh” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng  đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

                                   Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                   Quân xanh màu lá dữ oai hùm

                                    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

                                   Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

                                   Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

                                   Áo bào thay chiếu anh về đất

                                    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

*/ Phân tích ngắn gọn hai câu thơ sau : “Rải rác …đời xanh” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

_ Sự phi thường nét hào hoa của người lính Tây Tiến không chỉ được thể hiện trong tính cách của họ lúc sống chiến đấu mà còn được thể hiện một cách tập trung sâu đậm qua sự hy sinh hào hùng của họ :            Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                           Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

_Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Mới đọc qua, ta tưởng như nó chỉ làm nhiệm vụ thông báo bình thường nhưng lại có sức gợi tả thật lớn lao .

+ Từ “rải rác” không những không gợi được sự thưa thớt ít ỏi vốn có của nó mà lại gợi cho người đọc cảm giác nhiều, nhiều vô kể.( rải rác – biên cương – mồ – viễn xứ à gợi ra cảm giác dài  xa xôi hoang vắng )

+ “Mồ viễn xứ”: những ngôi mộ xa xứ. Đồng nghĩa với những ngôi mộ vô chủ không ai hương khói.Cụm từ ấy như xoáy sâu vào lòng người một sự nhức nhối xót xa đến trào nước mắt.

Những nấm mồ không tên, những cái chết vô danh vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương xa xôi hoang vắng đến ghê người. Không một giọt nước mắt mẹ già, người thân. Không một lời vĩnh biệt. Thời gian sẽ qua đi, tất cả sẽ xoá nhoà vào lòng đất. Câu thơ  mang âm điệu trầm hùng bi tráng phơi bày hiện thực phũ phàng, đưa người ta đến vực thẳm của sự bi quan.

Nhưng mỗi lần như thế, Quang Dũng lại được nâng đỡ bởi đôi cánh của lý tưởng của tinh thần lãng mạn. Chính vì thế mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi kia như bị mờ đi trước lý tưởng quên mình vì tổ quốc của người lính Tây Tiến.

_ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

+ Đời xanh là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng.

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh : Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn . Dường như cái chết đã được đặt ra từ trước, họ đâu có băn khoăn trước sự mất còn. Cái chết với họ nhẹ tựa lông hồng.

→Câu thơ không bi quan uỷ mị mà nó vang lên như một lời thề thiêng liêng cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc theo tinh thần thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính vì thế mà họ bất chấp tất cả gian khổ hi sinh để ra đi chiến đấu một cách kiêu hùng.

 

Đề 18 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

Phân tích ngắn gọn hai câu thơ sau : “Áo bào …độc hành” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

*/ Đọc thuộc lòng  đoạn thơ : “Tây Tiến  … độc hành”.

                                   Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                   Quân xanh màu lá dữ oai hùm

                                    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

                                   Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

                                   Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

                                   Áo bào thay chiếu anh về đất

                                    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

*/ Phân tích ngắn gọn hai câu thơ sau : “Áo bào …độc hành” ( Tây Tiến – Quang Dũng)

_ Các tráng sĩ giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Còn các chiến sĩ Tây Tiến chỉ có chiếc áo rách vai mà các anh gọi là “Áo bào thay chiếu anh về đất”

+  Áo bào :Thực ra đó cũng chỉ là cách nói sang trọng, một cái cười gượng gạo trên môi nhà thơ trước một thực tế quá trần trụi đau buốt tâm can : Họ hy sinh mà không một manh chiếu che thân.

+ Anh về đất là các anh đã chết, đã hy sinh.

Chiến đấu giết giặc vì quê hương đất nước, các anh ngã xuống là các anh về đất, là nằm trong lòng đất mẹ Tổ quốc thân yêu. Anh về đất là các anh đã thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình, các anh hoá thân cho dáng hình xứ sở. Anh về đất nghĩa là hồn các anh đã hoà vào cây cỏ, sông núi để trở thành hồn thiêng đất nước.

→Diễn tả về sự mất mát lớn lao mà Quang Dũng nói thật nhẹ nhàng, thật thanh thản. Nhà thơ không dùng từ chết hay hy sinh mà là “về đất” để ca ngợi, để làm bình thường hoá vấn đề và tạo nên vẻ đẹp lãng mạn mang tính chất bi hùng.

_ Và người lính Tây Tiến ra đi cũng không cần một lời điếu văn, một giọt nước mắt. Mà chỉ có trời đất chứng giám, thu nhận thể xác linh hồn họ vào lòng. “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

+ Động từ “gầm” dội xuống mạnh mẽ tạo nên âm trầm vang như tiếng đạn đại bác tiễn đưa linh hồn người đã khuất về cõi vĩnh hằng, như tiếng kèn đồng trong bài chiêu hồn tử sĩ.

Sông Mã gầm lên như một nghi lễ trang trọng tiễn biệt các anh. Các anh vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Nhưng dòng sông Mã còn mãi cuồn cuộn chảy về xuôi mang theo truyền thuyết về những người con đất Việt anh hùng.

→Với cái nhìn nhiều chiều, bằng sự chọn lọc ngôn từ, tinh chọn những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể bất tử về người lính vô danh. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài đó, chúng hoà quện vào nhau, nương tựa nâng đỡ cho nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng, thần thái chung của bức tượng đài.

 

 

 

Đề 19 :  Tóm tắt ngắn gọn con đường thơ của Tố Hữu và đặc điểm phong cách thơ của ông ?

*/ Con đường thơ củaTố Hữu : gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng

_/ Chặng đường (1937 – 1946) với tập Từ ấy

_Từ ấy là kết quả của  mười năm đầu làm thơ cũng là 10 năm đầu tham gia cách mạng

_ Tập thơ là tiếng reo vui của một tâm hồn thanh niênn khao khát và bắt gặp lý tưởng cao đẹp quyết phấn đấu hi sinh vì lý tưởng cao đẹp ấy .

_/ Chặng đường (1947 – 1954) với tập Việt Bắc

_ Tập thơ sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp

_ Viết về quần chúng công – nông – binh và quê hương Việt Bắc, về những cảm lớn của con người Việt Nam kháng chiến. Biểu dương những con người bỡnh thường nhưng đó làm được những việc phi thường

_ Hình thức nghệ thuật của tập thơ mang đậm màu sắc dân tộc và đại chúng. Giọng điệu thơ mang âm hưởng sử thi.

_/ Chặng đường 1955 – 1961 với tập Gió lộng

_ Tác phẩm viết về cụng cuộc xây dựng  chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam.

_ Nghệ thuật biểu hiện của tác phảm đã già dặn nhuần nhuyễn hơn trong cảm hứng lãng mạn phơi phới lạc quan và thắm thiết ân tình. Tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với cái tôi trữ tình đa dạng.

_/ Chặng đường từ 1962 – 1977 với tập Ra trận(1962 – 1971),Việt Nam mỏu và hoa(1972- 1977)

_ Sáng tác trong những năm kháng chiến chống Mĩ quyết liệt hào hựng cho tới ngày thắng lợi

_ Ca ngợi chủ nghĩa anh hựng cách mạng, cổ vũ cuộc chiến đấu chống Mĩ cứu nước ở cả hai miền Nam Bắc.

_/ Từ 1978 đến nay “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999):

Trữ tình chính trị vẫn là nét ổn định trong thơ Tố Hữu nhưng không cón là nét nổi trội duy nhất mà thiên về chiêm nghiệm cuộc sống, lẽ đời. Giọng thơ trầm lắng hơn

 à Niềm tin vào ly tưởng và con đường cách mạng, tin vào chữ nhân luôn toả sáng ở mỗi hồn người.

*/ Phong cỏch thơ Tố Hữu:

_/ Tố Hữu là nhà thơ của ly tưởng cộng sản

_/  Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng trữ tình chính trị:

_/ Thơ Tố Hữu là giọng điêu tâm tình, ngọt ngào tha thiết.

_/ Thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc: thể thơ, lối biểu đạt, cách so sánh, hình ảnh quen thuộc

 

Đề 20 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Mình đi có nhớ …cây đa” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Nhận xét ngắn gọn những thủ pháp nghệ thuật của đoạn thơ trên ?

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Mình đi có nhớ …cây đa” ( Việt Bắc – Tố Hữu) :

M×nh ®i cã nhí nh÷ng ngµy                        M×nh ®i, cã nhí nh÷ng nhµ

M­a nguån suèi lò, nh÷ng m©y cïng mï   H¾t hiu lau x¸m, ®ậm ®µ lßng son

M×nh vÒ, cã nhí chiÕn khu                          M×nh vÒ, cã nhí nói non

M/ c¬m chÊm muèi, mối thù nÆng vai ?    Nhí khi kh¸ng Nhật, thuë cßn Việt Minh

M×nh vÒ, rõng nói nhí ai                             M×nh ®i, m×nh cã nhí m×nh

Tr¸m bïi ®Ó rông, m/mai ®Ó giµ.              Tân Trào, Hồng Th¸i, mái ®×nh, c©y ®a

*/ Nhận xét ngắn gọn những thủ pháp nghệ thuật của đoạn thơ sau : “Mình đi có nhớ … cây đa” ( Việt Bắc – Tố Hữu):

Nếu như ở những đoạn thơ trước, Người ra đi bâng khuâng bồn chồn, cầm tay nhau bịn rịn luyến lưu mà chẳng nói lên lời. Thì ở đoạn thơ này, người ở lại đã khơi dạy một quá vãng đầy kỉ niệm, nhằm một lần nữa khẳng định lòng chung thủy của mình.

_ cặp từ nhân xưng “mình – ta” được sử dụng sáng tạo và độc đáo thật phù hợp, thân thiết mà không sổ sàng; kín đáo mà không xa vời tạo nên âm hưởng ngọt ngào tha thiết.. Nhưng “ta” lúc này cũng được chuyển hóa thành “mình” “Mình đi mình lại nhớ mình”. Sự chuyển hóa này nhằm diễn tả tỉnh cảm gắn bó keo sơn tuy 2 mà là một, khăng khít không rời

Đó là tấm lòng của người ở lại. Còn người ra đi thì sao ?

_ Kết cấu của đoạn thơ này cũng thật lạ. Mười hai câu thơ tạo thành 6 câu hỏi

+ Có câu hỏi gợi nhớ hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt:

Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù.

+ Có câu hỏi gợi nhớ tới cảnh sinh hoạt thiếu thốn:

Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai.

+ Có câu hỏi lại như hỏi chính lòng mình:

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Rừng núi nhớ hay đồng bào Việt Bắc nhớ. Và khi “ai” đó đi rồi thì trám bùi, măng mai còn có ý nghĩa gì nữa đây.

èBiện pháp nhân hoá kết hợp với đại từ phiếm chỉ ai càng tô đậm cảm giác cô đơn, trống vắng của kẻ ở khi phải chia tay.

 Và

+ Có câu hỏi lại gợi về những kỷ niệm của một thời cách mạng, một thời kháng chiến:

Mình về có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa

_ Điều đáng lưu ý nữa là trong một đoạn thơ ngắn mà 5 từ nhớ  được nhấn đi nhấn lại( Điệp từ) thể hiện nỗi lòng tha thiết với những sắc thái khác nhau của người ở lại

Khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm : cay đắng ngọt bùi, gian nan vất vả, người ở lại muốn khẳng định với người ra đi một điều : nét đẹp cao quý của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cực mà chân tình rộng mở, sắt son thuỷ chung với cách mạng, người cũng vậy mà thiên nhiên cũng vậy. Và đoạn thơ đã thể hiện được điều đó

 

Đề 21 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Ta về mình có nhớ ta …thủy chung” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Thiên nhiên và con người Việt Bắc được hiện lên trong đoạn thơ trên như thế nào ?

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Ta về mình có nhớ ta …thủy chung” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

“ Mình về mình có nhớ ta                     Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.          Ve kêu rừng phách đổ vàng

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi          Nhớ cô em gái hái măng một mình

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.           Rừng thu trăng rọi hòa bình

Ngày xuân mơ nở trắng rừng          Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

*/ Thiên nhiên và con người Việt Bắc được hiện lên trong đoạn thơ trên như thế nào ?

_ Bao trùm đoạn thơ là nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến.

+ Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối của đoạn thông qua điệp từ nhớ.

+ Đặc biệt cụm từ “ta về” được láy lại hai lần ở đầu câu như khơi gợi, như nhắc khéo: mình có nhớ ta không. Riêng ta, ta vẫn nhớ người lắm.

+ Cách xưng hô Mình – ta thân thiết, ngọt ngào dễ thương à cuộc chia tay giữa cán bộ kháng chiến với người Việt Bắc, giữa miền xuôi và miền ngược đã trở thành cuộc giã bạn đầy lưu luyến.

_ Nhưng có lẽ lắng đọng nhất trong nỗi nhớ, trong hoài niệm của tác giả đó là hoa và người: thiên nhiên và con người Việt Bắc.

+ Thiên nhiên.

  • Ø Bốn mùa đất nước hiện lên với những nét độc đáo, những hương vị riêng :  Mùa Đông rừng xanh biếc – bông chuối đỏ tươi – ánh nắng vàng rực rỡ.  Mùa Xuân: khu rừng bừng sáng bởi màu trắng tinh khiết của hoa mơ. Hè về: ve kêu – rừng phách đổ vàng. Thu đến: thiên nhiên được thắp sáng bởi màu vàng dịu của ánh trăng.

→  Bằng những hình ảnh, những chi tiết chọn lọc, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên với những màu sắc chói lọi rực rỡ xanh, đỏ, vàng, trắng. Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan người đọc, khiến ta có cảm giác như đang được chiêm ngưỡng một bức tranh thiên nhiên sống động của núi rừng Việt Bắc.

  • Ø Thiên nhiên ấy còn được miêu tả theo chiều dọc của thời gian : Buổi sáng: mơ nở trắng rừng. Buổi trưa: ánh nắng vàng rực rỡ.  Khi về đêm trăng rọi bàng bạc khắp nơi.

→  Núi rừng Việt Bắc như một sinh thể đang biến đỏi trong từng khoảnh khắc.

+ Phong cảnh tuyệt vời, đáng yêu ấy càng trở nên hài hoà sinh động hẳn lên khi xuất hiện con người.

  • Ø Mỗi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người à cảnh và người đan xen hài hoà, con người là đoá hoa đẹp nhất có hương thơm ngọt ngào.
  • Ø Con người gắn với công việc lao động :  Kẻ dao gài thắt lưng.  Người thì đan nón. Còn Cô em gái hái măng một mình và tiếng hát của ai đó vang lên giữa rừng núi xôn xao.
  • Ø Họ là những con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời à hình ảnh con người là nét đẹp chủ đạo của bức tranh Việt Bắc, chính họ đã thắp sáng thiên nhiên làm thiên nhiên thêm rực rỡ chính họ đã gợi lên được nỗi nhớ da diết cho người ra đi.

→  ta cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn con người Việt Bắc,

à  Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, Tố Hữu thể hiện một tình cảm thiết tha ân tình sâu nặng và…

 

Đề 22 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Những đường Việt Bắc …núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ sau : “Những đường Việt Bắc …mũ nan” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Những đường Việt Bắc …núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

 

“ Những đường Việt Bắc của ta                   Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đêm đêm rầm rập như là đất rung               Đèn pha bật sang như ngày mai lên”

Quân đi điệp điệp trùng trùng                    Tin vui chiến thắng trăm miền

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan            Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Dân công đỏ đuốc từng đoàn                      Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay            Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng

*/ Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ sau : “Những đường Việt Bắc …mũ nan” ( Việt Bắc – Tố Hữu):

_ Nếu như ở những đoạn thơ trước, Tố Hữu mang đến cho người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Thì ở đoạn thơ này, nhà thơ đã đột ngột chuyển hướng. Không còn những dòng thơ ngọt ngào như ca dao nữa mà nó đã mang âm hưởng của cảm hứng sử thi hào hùng : Một Việt Bắc ra trận, một dân tộc ra trận quyết chiến và quyết thắng

_                                   Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung.

+ Với những từ láy “Đêm đêm – rầm rập”, kết hợp với hình ảnh so sánh cường điệu “như là đất rung” , nhà thơ không chỉ gợi ra không gian, thời gian của cuộc khỏng chiến mà ông còn gợi ra thật hay, thật hào hùng âm vang, sức mạnh của  cuộc kháng chiến thần thánh

+ Ấn tượng về sức mạnh của dân tộc còn được gợi ra từ hình ảnh :“Những đường Việt Bắc của ta”. Hinh ảnh thơ vừa mang ý nghĩa ta thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát: con đường đi lên kháng chiến và cách mạng, con đường dẫn tới thành công

Hình ảnh một đất nước trong kháng chiến, bỗng trở nên rực sáng và hào hùng hơn bởi  những đoàn quân ra trận:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

+ Điệp điệp trùng trùng

Bộ đội ta trang bị vật chất còn thiếu thốn,, còn phải đội mũ nan đan bằng tre lợp vải nhưng đoàn quân điệp điệp trùng trùng chính là hình ảnh tượng trưng cho sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến

èTừ láy gợi sự đông đảo, người người lớp lớp như sóng cuộn tạo sức mạnh vô địch

+ Ánh sao đầu súng, hình ảnh thơ vừa thực vừa lãng mạn : Có thể là ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép. Có thể là ánh sao của bầu trời Việt Bắc, cũng có thể ánh sao của lý tưởng chiến đấu vì độc lập tự do như soi sáng nẻo đường hành quõn ra trận của anh bộ đội.

 

Đề 23 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Những đường Việt Bắc …núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ sau : “Dân công đỏ đuốc … mai lên” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Những đường Việt Bắc …núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

 

“ Những đường Việt Bắc của ta                   Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đêm đêm rầm rập như là đất rung               Đèn pha bật sang như ngày mai lên”

Quân đi điệp điệp trùng trùng                    Tin vui chiến thắng trăm miền

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan            Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Dân công đỏ đuốc từng đoàn                      Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay            Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng

*/ Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ sau : “Dân công đỏ đuốc … mai lên” ( Việt Bắc – Tố Hữu) :

_ Hình ảnh đoàn dân công phục vụ tiền tuyến :

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Buớc chân nát đá muôn tàn lửa bay

Những bó đuốc đỏ rực soi đường đã làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn. Ta có thể hình ở đó có đủ cả già trẻ trai gái, họ đến từ nhiều miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở gồng gánh, quyết tâm kiên cường vượt núi cao đèo dốc, đảm bảo sức mạnh vật chất cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng. Nên hình ảnh

_ Dân công đỏ đuốc  là hình ảnh tả thực, ngày là của giặc, đêm là của ta

_ Muôn tàn lửa bay  è Hình ảnh thơ thật đẹp, thật lãng mạn. Họ đi kháng chiến chẳng khác gì đi trong đêm hội hoa đăng .

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, là cuộc chiến tranh nhân dân, nó phát huy cao độ sức mạnh của cả dân tộc chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa :

_ Bước chân nát đá  →  Mang âm hưởng ca dao, đó là bước chân của những con người  đạp bằng mọi chông gai để đi tới →    Âm hưởng sử thi

Ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng chiến thắng giòn giã. Những ngày đầu chỉ có vũ khí thô sơ, sau lực lượng ta càng thêm hùng hậu, phát triển thành những những binh đoàn, có pháo binh, có đoàn xe ra tiền tuyến.

_ Hình ảnh đoàn xe ra hoả tuyến

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn  pha  bật  sáng  như  ngày  mai  lên.

_ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày →  Đó là những ngày đen tối, những khó khăn thiếu thốn của cách mạng và kháng chiến.

_ Đèn pha →  đèn của đoàn xe kéo pháo của đoàn xe vận tải bật sáng phá tan những lớp sương mù, đẩy lùi những khó khăn tăm tối

_ Như ngày mai lên è bình minh chiến thắng.

Hai câu thơ tạo ra →  tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng : Nếu câu trên khắc hoạ bóng đêm đen tối thăm thẳm gợi kiếp sống nô lệ của cả dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù thì câu dưới lại bừng lên ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng →  để nêu bật xu thế chiến thắng tất yếu của dân tộc ta trước mọi kẻ thù hắc ám. Đồng thời khẳng định những ngày tươi sáng hạnh phúc  nhất định sẽ tới với dân tộc chúng ta

→ Hình ảnh thơ vừa mang đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn, vừa có ý nghĩa tả thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng cho một tương lai tươi sáng của đất nước. Con đường Việt Bắc, con đường ra trận đầy máu lửa và chiến công cũng là con đường đi tới ngày mai huy hoàng.…..

 

Đề 24 :  Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Những đường Việt Bắc …núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ sau : “Tin vui chiến thắng … núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

*/ Đọc thuộc lòng đoạn thơ sau  : “ Những đường Việt Bắc …núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu)

“ Những đường Việt Bắc của ta                   Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đêm đêm rầm rập như là đất rung               Đèn pha bật sang như ngày mai lên”

Quân đi điệp điệp trùng trùng                    Tin vui chiến thắng trăm miền

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan            Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Dân công đỏ đuốc từng đoàn                      Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay            Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng

*/ Phân tích ngắn gọn bốn câu thơ sau : “Tin vui chiến thắng … núi Hồng” ( Việt Bắc – Tố Hữu) :

Bốn câu thơ trên khép lại bằng niềm vui chiến thắng :

“Tin vui chiến thắng trăm miền …  Vui lờn Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Tố Hữu sử dụng bốn câu thơ để miêu tả không khí chiến thắng đang dồn dập trên khắp đất nước. Cũng là một thủ phỏp liệt kê nhưng những địa danh ở đây không gắn với chữ “nhớ” như ở những dòng thơ mở đầu của đoạn mà gắn với những chữ “vui” để thấy tin vui đang như bay lên từ khắp trăm miền. Kết cấu của bốn câu thơ này cũng là một kết cấu khá chặt chẽ. Câu một là cảm xúc bao quát: “Tin vui chiến thắng trăm miền”, còn ở câu sau nhằm thể hiện sự lan toả của những tin vui khắp trăm miền ấy. Vì thế những địa danh liên tiếp xuất hiện gắn liền với các tin vui chiến thắng. Sự liệt kê các địa danh chiến thắng cũng chứa đựng những giá trị tư tưởng-nghệ thuật. Đó là sự sắp xếp nhằm làm nổi bật tin vui như bay đi với độ “siêu tốc”. Vừa mới đó là Hòa Bình – Tây Bắc – Điện Biên, tiếp sau đó là Đồng Tháp (Nam Bộ), An Khê (Tây Nguyên), lại đó là Việt Bắc, đèo De núi Hồng.

Tóm lại, đoạn thơ đó rất thành công khi thể hiện một Việt Băc, một dân tộc ra trận, chiến đấu và chiến thắng niềm trong những ngày kháng chiến chống thực dân pháp gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng.  Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện: thể thơ lục bát truyền thống; ngôn ngữ sử thi hào hùng; hình ảnh thơ giàu sức sống; nhịp thơ dồn dập, nhiều điệp từ, điệp ngữ… tất cả đã tạo nên một đoạn thơ hùng tráng về những ngày sục sôi đánh pháp. Hơn nửa thế kỷ trụi qua rồi mà sức sống mãnh liệt của thời đại ấy vẫn còn rực lửa trong trái tim mỗi con người Việt Nam.

Đề 25 : Nêu ngắn gọn những hiểu biết của em về Nguyễn Khoa Điềm, về xuất xứ và đại ý của đoạn trích Đất Nước ( trích trường ca Mặt đường khts vọng của Nguyễn Khoa Điềm ) 

Đề 26 : Đọc thuộc lòng đoạn thơ “Khi ta lớn lên …ngày đó”

Phân tích ngắn gọn đoạn thơ sau : “Khi ta lớn lên …mà đánh giặc”

Đề 27 : Đọc thuộc lòng đoạn thơ “Khi ta lớn lên …ngày đó”

Phân tích ngắn gọn đoạn thơ sau : “Tóc mẹ thì …ngày đó”

Đề 28 : Đọc thuộc lòng đoạn thơ “Nhưng người vợ …núi sông ta”

Nêu ngắn gọn cảm nhận của em về đoạn thơ trên ?

Đề 29 : Đọc thuộc lòng đoạn thơ “Em ơi em …làm ra đất nước”

Nêu ngắn gọn cảm nhận của em về đoạn thơ trên ?

Đề 30 : Đọc thuộc lòng đoạn thơ “Họ giữ và truyền …đánh bại”

Nêu ngắn gọn cảm nhận của em về đoạn thơ trên ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÁC GIẢ GỒ CHÍ MINH _ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP : HỎI _ ĐÁP ( Clik) 

Đề 1 : Tóm tắt tiểu sử của Hồ Chí Minh

_ Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19/5 / 1890, quê ở Nam Đàn, Nghệ An

_ Người xuất thân trong một nhà nho gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Bố là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Mẹ là bà Hoàng Thị Loan

_ Năm 1911 Người ra đi tìm đường cứu nước

_ Năm 1920, Bác tham dự đại hội Tua và là 1 trong những người sang lập ra đảng cộng sản Pháp

_ 1923 – 1925 hoạt động ở nhiều nước trên thế giới

_ 1930, Bác thành lập Đảng Cộng sản Đông dương

_ 1941 Bác về nước lãnh đạo cách mạng trong nước

_ 8/1945Người lãnh đạo nhân dân cả nước nổi dậy cướp chính quyền;  Và Bác đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

_ Từ 1946 đến khi mất, Người luôn giữ những trọng trách quan trong của đất nước

Đề 2 : Những yếu tố ảnh hướng đến sự nghiệp văn chương của Hồ Chí Minh ?

 

 

Đề 3 : Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh ?

_ Hồ Chí Minh coi văn chương là vũ khí lợi hại phụng sự cách mạng

_ Người cũng luôn chú trọng tính chân thực và tinh dân tộc của văn học

_ Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bo giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm

Đề 4 : Đặc điểm phong cách văn chương của Hồ Chí Minh

*/Văn thơ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có phong cách độc đáo, đa dạng mà thống nhất, kết hợp sâu sắc nhuần nhị giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thuật , giữa truyền thống và hiện đại.Mỗi thể loại văn học, Người lại có phong cách độc đáo riêng biệt.

_ Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp.

_ – Truyện và kí của Người rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén

_  Thơ nghệ thuật của Bác thường kết hợp hài hòa chất cổ điển với tinh thần hiện đại, giữa chất trữ tình và chất thép; giữa sự trong sang giản dị và sự hàm súc sâu sắc.

 

 

Đề 5 : Hoàn cảnh ra đời của Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh )

_ Nhật đầu hàng Đồng minh . Chiến tranh thế giới lần II kết thúc.

_ Ngày 19/8/1945 chính quyền Hà Nội về tay nhân dân.Nhưng bè lũ đế quốc Pháp Mĩ lăm le xâm lược Việt Nam

_ 26/8, Tại căn nhà 48  Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập

_ 2/9/45 tại Quảng trường Ba Đình Người đọc Tuyên Ngôn Độc Lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa

Đề 6 : Đối tượng, mục đích, hướng tới của bản Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh )

*/ Đối tượng :

_ Nhân dân Việt Nam

_ Nhân dân thế giới ( công luận quốc tế)

_ Bè lũ đế quốc thực dân

*/ Mục đích

_ Tuyên bố nền Độc lập chủ quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

_ Đập tan luận điệu xảo trá, âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp

Đề 7 : Chép thuộc lòng từ “Hỡi đồng bào cả nước” đến “quyền sung sướng và quyền tự do” ( Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh )

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Đề 8 : Chép thuộc lòng từ “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền” đến “không ai chối cãi được” ( Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh )

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

 Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được

Đề 9 : Xác định cơ sở pháp lí cho bản Tuyên ngôn của mình, Bác trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mĩ và Pháp. Việc trích dẫn trên có ý nghĩa là

+ Từ lẽ phải – chân lí chung của nhân loại, Bác đã không chỉ xác định cơ sở pháp lí vững chắc cho bản Tuyên ngôn Độc lập của mình : đó là quyền Độc lập tự do của các dân tộc

+ Mà Bác đã khéo léo và kiên quyết khẳng định quyền Độc lập của dân tộc Việt Nam bằng chính lời lẽ của cha ông chúng, nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng

+Qua việc trích dẫn trên, Bác đã đặt ba cuộc cách mạng ngang nhau, ba nền độc lập ngang nhau. Từ đó nâng tầm vóc của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam

Đề 10 :  Không chỉ trích dẫn mà Bác còn mở rộng, phát triển vấn đề thành một tư tưởng mới. Chỉ ra sự tài tình trong cách lập luận của Bác ?

Sự tài tình trong cách lập luận của Bác là ở chỗ

+ Bác cho rằng : mọi người là tất cả các con người. Tất cả các con người này làm nên dân tộc. Do đó mọi người có thể thay thế cho dân tộc

+ Như vậy từ quyền con người Bác đã vận dụng thiết thực sáng tạo vào quyền Độc lập  dân tộc. Từ khái niện con người cá nhân sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục

àBác đã thức tỉnh trí tuệ Việt Nam và trí tuệ nhân loại

Đề 11 Phần 3 của bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác tuyên bố những gì ? Chỉ ra tài lập luận của Hồ Chí Minh

*/ Bác tuyên bố

_ Tuyên bố thoát li hẳn mọi quan hệ với Pháp

_ Tuyên bố Độc lập chủ quyên của nước Việt Nam mới, khi sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

* / Tài lập luận của Bác là ở chỗ :

_ Trước khi tuyên bố thành lập một nhà nước mới, Tác giả đã đanh thép và triệt để tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ tất mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam”.

_ Sau đó Người dùng lời nói của các nước đồng minh để khéo léo thắt buộc họ phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam

_ Trên cơ sở lý lẽ vũng chắc đó, Hồ Chí Minh đanh thép tuyên bố Độc lập chủ quyên của nước Việt Nam mới

Đề 12 : Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến ( Quang Dũng)

_Cuối năm 1947, Quang Dũng ra nhập đòn quân Tây Tiến, tham gia phối hợp với bộ đội Lào để bảo về biên giới Việt Lào

_ Dịa bàn hoạt động của đoàn quan khá rộng : Mai Châu, Mộc Châu, Sầm Nứa rồi vòng về miền Tây Thanh Hóa

_ Phần đông họ là trí thức Hà Thành; sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn gian khổ : đánh trận thương vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng họ vẫn chiến đấu dung cảm, lạc quan yêu đời.

_ Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”

_ Năm 1975, khi in lại, ông bỏ chữ “Nhớ”

Đề 13 : Hoàn cảnh ra đời và chủ đề của bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc ( Nguyễn Đình Chiểu)

• Hoàn cảnh sáng tác:  Bài viết đăng trên tạp chí Văn học số 7 – 1963 nhân kỉ niệm ngày mẩt của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888).

• Chủ đề: Qua bài viết, tác giả khẳng định, cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu Là cuộc đời của người chiến sỹ đã phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phòng dân tộc. Sự nghiệp thơ ca của ông là minh chứng hùng hồn cho vị trí và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc đời. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là bài học cho hôm nay mà cho cả mai sau.

Đề 14 : Hoàn cảnh ra đời của bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AISD… ( Co phi an nan)

*/Hoàn cảnh sáng tác: Cô-phi An-nan viết văn bản này gửi nhân dân toàn thể giới nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1/12/2003.

*/Chủ đề :  Bản thông điệp khẳng định phòng chống  HIV/AIDS phải là mối quan tam hang đầu của toàn nhân loại, và những cố gắng của con người về mặt này vẫn còn chưa đủ Từ đó, tác giả tha thiết kêu gọi các quốc gia và toàn thể nhân dân thế giới nhận thấy sự nguy hiểm của đại dịch này và tích cực chung tay góp sức ngăn chặn, đẩy lùi hiểm hoạ.

 TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG ( HỎI _ ĐÁP Clik)

 Đề 1 : Trình bày ngắn gọn những hiểu biết của em về nhà thơ Quang Dũng ?

_ Quang Dũng sinh năn 1921, mất năm1988. Tên thật là Bùi Dình Diệm, người

làng Phượng Trì huyện Đan Phượng, Hà Tây. Ông học hết trung học ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, tham gia quân đội, sau đó công tác tại nhà xuất bản Văn học.

_ Quang Dũng là một nghệ sĩ có nhiều tài năng. Thơ của ông trung hậu yêu tha thiết quê hương đất nước mình. Cái tôi trong thơ Quang Dũng hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn

_ Quang Dũng có khả năng cảm nhận và diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên của con người một cách tài hoa tinh tế nhưng cũng rất mực bình dị chân thành.

_ Tên tuổi của ông gắn liền với bài thơ Tây Tiến, một đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp

Đề 2 : Hoàn cảnh ra đời và chủ đề của bài Tây Tiến ( Quang Dũng )?

*/ Hoàn cảnh ra đời

–   Cuối năm1947 Quang Dũng ra nhập đoàn quân Tây tiến, tham gia phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt

–  Địa bàn hoạt động của Đoàn quân khá rộng : Mai Châu, Mộc Châu,Sầm Nứa rồi vòng về miền tây Thanh Hoá.

–  Phần đông họ là những thanh niên trí thức Hà Nội, sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn gian khổ, đánh trận thương vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng họ vẫn chiến đấu rất dũng cảm, vẫn lạc quan yêu đời.

– Cuối năm1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh(Hà Đông cũ), ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau in lại năm 1975, ông bỏ chữ “Nhớ”.

*/ Chủ đề : Bài thơ là nỗi nhớ niềm tự hào của tác giả đối với đoàn binh Tây Tiến.

Đề 3 : Tây Bắc hùng vĩ và dữ dội, được Quang Dũng nhớ trên những phương diện nào? Chép thuộc lòng từ “ Sông Mã …  xa khơi”

*/ Tây Bắc hùng vĩ và dữ dội, được Quang Dũng nhớ

_ qua hình ảnh con sông Mã,

_ qua tên bản tên mường,

_ qua thiên nhiên hùng vĩ  bí ẩn

_ và cả những chặng đường hành quân của họ

*/  Chép thuộc lòng từ “ Sông Mã …  xa khơi”

 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm ơi

Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Đề 4 : Phân tích ngắn gọn 2 câu thơ sau : “Sông Mã …chơi vơi”

*/ Tây Bắc hiện lên trước hết qua hình ảnh sông Mã

                 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

                 Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Con sông cuồn cuộn chảy giữa những ngày gian truân vất vả của người chiến sĩ Tây Tiến. Nay đã “xa rồi”, đã là quá khứ rồi, nhưng nỗi nhớ trong long nhà thơ thì không thể nào nguôi được:

_“nhớ chơi vơi”àlà nỗi nhớ không định hình, khó nắm bắt, khó diễn tả bằng lời.Nỗi nhớ ấy vừa bao la bát ngát lại vừa có chiêu sâu như xoáy vào lòng người.    

Tiếng gọi

_“Tây Tiến ơi” vang lên thân thiết như tiếng gọi người thân.

_ Từ cảm “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng tha thiết sâu lắng bồi hồi ngân dài trong lòng người vọng vào thời gian, lan rộng trong không gian

_ Hai tiếng “Xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ hô ứng với điệp từ “nhớ”ở câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây.

Đề 5 : Phân tích ngắn gọn 2 câu thơ sau : “Sài Khao …đêm hơi”

*/ Miền Tây hiện lên qua những tên bản tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương 

_                                  Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

                                     Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Và cả những khổ dưới, ta thấy xuất hiện Pha Luông Mường Hịch, Mai Châu

è Đó là những địa danh không chỉ gợi nên bao nhớ thương vơi đầy mà nó còn để lại những ấn tượng đậm nét về một miền xa xôi heo hút thâm sơn cùng cốc,

èGắn với những địa danh ấy là địa bàn hoạt động gian khổ vất vả của đoàn binh Tây Tiến .

Họ đi trong “sương lấp”, trong “đêm hơi”

_ Hình ảnh “ sương lấp đoàn quân mỏi” gợi cho người đọc một sự liên tưởng èđoàn quân Tây Tiến đi giữa biển sương mù của núi rừng. Họ như bị lấp đi, bị che đi bởi sương hay họ cũng đang bị trĩu xuống trong sự mệt mỏi vì sự khắc nghiệt của thời tiết. Câu thơ gợi cảm giác lạnh lùng, nặng nề, đe doạ.

_ Nhưng hình ảnh “ hoa về trong đêm hơi”è vẫn là sương mù của núi rừng, vẫn là thời tiết khắc nghiệt  nhưng lại diễn tả một trạng thái lâng lâng của cái mệt mỏi gian khổ đã được vượt qua, đã được tiêu tan.

 èCâu thơ gồm sáu thanh bằng liên tiếp, diễn tả cái nhẹ nhàng cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đã đi tới đích sau chặng đường dài hành quân đầy thử thách.

Đề 6 : Thiên nhiên Tây Bắc được hiện lên qua nỗi nhớ của Quang Dũng trên những phương diện nào (chi tiết nào ) ? Chép thuộc lòng từ “Dốc lên …trêu người”

*/ Thiên nhiên Tây Bắc được hiện lên qua nỗi nhớ của Quang Dũng trên những phương diện nào (chi tiết nào ) là : Dốc, đỉnh núi, vực thẳm, và sự hoang sơ bí ẩn của thiên nhiên

*/Chép thuộc lòng từ “Dốc lên …trêu người”

Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên sung mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp true người

Đề 7 :  Phân tích ngắn gọn 2 câu thơ sau : “Dốc lên …ngửi trời”

Dốc lên khúc khuỷu ốc thắm thẳm

Heo hút cồn mây sung ngửi trời

Câu thơ hun hút đi lên theo chiều cao của núi rừng

_ Dốc : Dốc lên thì khúc khuỷu gập ghềnh – Dốc xuống thì thăm thẳm như dẫn đến vực sâuè Câu thơ có 5/7 là thanh trắc kết hợp với một loạt từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) gợi cho người đọc cảm giác gồ ghề, lồi lõm, gập ghềnh, cheo leo hiểm trở của dốc núi.

 Đó chính là sự gian khổ mà người lính phải vượt qua. Còn núi thì sao ?

_ Đỉnh núi: mù sương cao vút, núi cao tưởng chừng như chạm tới mây : Cồn mây – Súng ngửi trời. Mây và sương mù tụ lại thành cồn heo hút, người lính đi trên những ngọn núi cao ấy như đi trên những cồn mây, mũi súng như ngửi trời, như chạm tới đỉnh trời. èMũi súng của người chiến sĩ đã được nhân cách hoá đầy chất lính nhưng cũng thật ngộ nghĩnh hồn nhiên yêu đời.

Hình ảnh đó khiến ta liên tưởng tới hình ảnh “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu.Tại đây ,àcái đẹp của thiên nhiên và con người đã gặp chỗ tương đồng. Thiên nhiên và con người đã trở nên thân thiết đến mức khó tin àvẻ đẹp nên thơ lãng mạn và hết sức hào hùng.

Núi tiếp núi, đèo tiếp đèo, hết lên cao lại xuống thấp như thử thách lòng người. Và giữa hai vách núi dựng đứng là :

_ Vực thẳm : “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”è Câu thơ được tạo bởi hai vế tiểu đối, kết hợp với nhịp thơ bị bẻ đôi  gấp khúc như diễn tả dốc núi vút lên đổ xuống gần như thẳng đứng.

Đề 8 : Phân tích ngắn gọn 2 câu thơ sau : “Chiều chiều …trêu người” ?

Tây Bắc đâu chỉ có vậy. Mà

_ Thiên nhiên nơi đây còn rất hoang sơ và bí ẩn đến ghê rợn:

                       “Chiều chiều oai linh thác gầm thét

                    Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người”

Chiều chiều rồi đêm đêm thác gầm thét cọp trêu người”

è Đó là những âm thanh khẳng định cái bí ẩn, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng luôn vang động. Những sức mạnh bí ẩn đó đã được nhà thơ ènhân cách hoá để tăng thêm phần dữ dội của thiên nhiên.

Đề 9 : Phân tích 2 câu thơ  sau: “ Anh bạn … quên đời” (Tây Tiến – Quang Dũng )?

Trên nẻo đường trường chinh đầy gian khổ và máu lửa ấy,

_  Các anh có thể phải hy sinh cả tính mạng của mình. Có anh đã không bao giờ còn được nhìn thấy làng quê người thân của mình :

                                         Anh bạn dãi dầu không bước nữa

                                    Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

+ Hai tiếng “anh bạn” cất lên như một tiếng khóc thầm.

+ Bốn chữ “gục lên súng mũ” thể hiện sự hy sinh vô cùng bi tráng. Anh ngã xuống trên đường hành quân giữa trận đánh, đầu gục lên súng mũ như đang trầm tư mơ mộng về Hà Nội. Dáng nằm của anh thật thanh thản nhẹ nhàng. Mặc dù

èQuang Dũng đã thay từ “chết” từ “hy sinh” bằng những từ “không bước nữa”, “gục”, “bỏ quên đời”, nói cách khác là tác giả đã sử dụng cách nói giảm nhưng lòng người đọc vẫn không khỏi trào lên bao nỗi xót xa thương tiếc.

Hiện thực chiến tranh xưa nay vẫn thế, sự hy sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu của các anh đổ xuống để xây đài tự do. Có điều là vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưngè không gợi ra sự bi luỵ thảm thương mà trái lại trong sự tiếc thương đó còn có sự tự hào khẳng định.

Đề 10 : Phân tích 2 câu thơ  sau: “ Nhớ ôi… nếp xôi” (Tây Tiến – Quang Dũng )?

_ Vượt lên trên những gian khổ hy sinh, hành trang của người lính  đầy ắp những kỷ niệm đẹp về tình quân dân.       Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói                                  

                                       Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

+“Nhớ ôi”, đó là tình cảm dạt dào, là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến.

+“Cơm lên khói” gợi ra cảnh tượng đầm ấm của tình quân dân.

Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng vượt núi lội suối trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, nghỉ ngơi ở một bản nào đó, quây quần bên nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm của lúa nếp ngay mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt người lính.

+ Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo trong ngôn từ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ ơn sâu nghĩa nặng đối với bà con  dân bản.

Và như thế, bên cạnh núi rừng hiểm trở với độ cao rợn người là mái nhà thấp thoáng ẩn hiện trong làn mưa mỏng nơi lưng chừng núi; bên cạnh vùng đất hoang dại chứa đầy bị mật ghê gớm của rừng thiêng với thác gầm thét, cọp trêu người là một bản làng có cơm lên khói, có mùi thơm của cơm nếp xôi và những cô gái xinh đẹp như những bông hoa rừng. Đây là khung cảnh thực của chiến trường Tây Tiến đã được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, hào hoa của những anh lính người Hà nội

Đề 11 : Tây Bắc mĩ lệ và duyên dáng  được Quang Dũng nhớ trên những phương diện nào ? Chép thuộc lòng từ “Doanh trại … đong đưa” ( Tây Tiến – Quang Dũng ?

*/ Nếu ở đoạn một nét vẽ chủ đạo là bạo, khoẻ, gân guốc thì đoạn hai lại được thay thế bằng những nét vẽ mềm mại uyển chuyển tinh tế.Và Tây Bắc mĩ lệ và duyên dáng  đượchiện lên trước hết qua đêm hội đuốc hoa và một chiều sương Châu Mộctrên sông nước mênh mang hư ảo

*/ Chép thuộc lòng từ “Doanh trại … đong đưa”     

                                                     Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

                                                      Kìa em xiêm áo tự bao giờ

                                                      Khèn lên man điệu nàng e ấp

                                                      Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

                                                       Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                                      Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                                      Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                                     Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Đề 12 : Phân tích ngắn gọn 4 câu thơ sau : “Doanh trại …hồn thơ”(Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

*/ Nếu ở đoạn một nét vẽ chủ đạo là bạo, khoẻ, gân guốc thì đoạn hai lại được thay thế bằng những nét vẽ mềm mại uyển chuyển tinh tế.Và Tây Bắc mĩ lệ và duyên dáng  đượchiện lên trước hết qua đêm hội đuốc hoa                                         

                                                    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

                                                      Kìa em xiêm áo tự bao giờ

                                                      Khèn lên man điệu nàng e ấp

                                                      Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

 

Chữ bừng như một nét vẽ có thần

_ Bừng vừa chỉ cường độ ánh sáng vừa chỉ cường độ của âm thanh. Bừng là sáng bừng lên, cháy rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm hội đuốc hoa. Bừng cũng có nghĩa là tưng bừng rộn ràng qua tiếng khèn man điệu, qua giọng nói cười tình tứ say mê.

Hai tiếng

_ “Kìa em” là đại từ chỉ trỏ từ xa, vừa thể hiện cái nhìn ngỡ ngàng ngạc nhiên vừa như một tiếng reo vui sung sướng khi những nhân vật trung tâm của đêm hội bất ngờ xuất hiện trong xiêm áo lộng lẫy, trong vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ.

Dường như trong ánh sáng lung linh bập bùng của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cảnh vật và con người đều ngả nghiêng , đều bốc men say ngây ngất rạo rực.

Đề 13 : Phân tích ngắn gọn 4 câu thơ sau : “Người đi …đong đưa”(Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

Cái mỹ lệ của Tây Bắc còn được tác giả gợi tả qua

* / Một chiều sương trên sông nước mênh mang hư ảo

                                    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

                                    Có nhớ dáng người trên độc mộc

                                    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

_ Châu Mộc chiều sương : Đó là không gian mang đậm màu sắc huyền thoại. Dòng sông trong một buổi chiều sương giăng mắc. Sông nước, đôi bờ  lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử.

trên dòng sông huyền thoại ấy nổi bật lên

_Dáng người trên độc mộc, hoa đong đưa Đú là hình dáng mềm mại uyển chuyển của người cầm lái trên chiếc thuyền độc mộc cùng hồn lau và hoa đong đưa làm duyên bên dòng nước lũ. Tất cả, người và cảnh đều hài hoà duyên dáng thơ mộng.

èNgòi bút của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Ông không tả cây lau mà chỉ gợi hồn lau. Không nhớ  con người Châu Mộc mà nhớ dáng vóc mềm mại của họ in bóng trên sông nước. Không nhớ những bông hoa mà tác giả chỉ nhớ cái ngả nghiêng đong đưa tình tứ của những bông hoa rừng.

è Qua vài nét loáng thoáng, cảnh vật trong thơ Quang Dũng như có hồn. Nhà thơ không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi ra được cái phần thiêng liêng của cảnh vật

èCách tự hỏi “có nhớ”, “có thấy” của tác giả đã tạo cho âm hưởng  của khổ thơ man mác bâng khuâng như đang ru hồn ta vào cõi mộng. Chất nhạc, chất hoạ, chất thơ cũng toát ra từ đó. Và cũng qua đây ta càng

è hiểu thêm vẻ đẹp trong tâm hồn của các chiến sĩ Tây Tiến : Trong gian khổ và thử thách, trong gian truân và chết chóc, họ vẫn lạc quan yêu đời, hồn nhiên và thơ mộng.

Đề 14 :  Hình tượng người lính Tây Tiến được hiện lên qua nỗi nhớ của Quang Dũng trên những phương diện nào ? Chép thuộc lòng từ “Tây Tiến đoàn binh   …độc hành”

*/ Trên cái nền hùng vĩ hiểm trở dữ dội của núi rừng (ở đoạn 1), cái duyên dáng thơ mộng mỹ lệ của Tây Bắc (ở đoạn 2), đến đoạn 3 hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với vẻ đẹp đầy tính bi tráng qua diện mạo, tính cách và cả sự hi sinh hào hùng của họ.

*/ Chép thuộc lòng :

                                   Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                   Quân xanh màu lá dữ oai hùm

                                    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

                                   Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

                                   Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

                                   Áo bào thay chiếu anh về đất

                                    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Đề 15 : Phân tích làm nổi bật diện mạo của người lính Tây Tiến (Tây Tiến – Quang Dũng

Trên cái nền hùng vĩ hiểm trở dữ dội của núi rừng (ở đoạn 1), cái duyên dáng thơ mộng mỹ lệ của Tây Bắc (ở đoạn 2), đến đoạn 3 hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với vẻ đẹp đầy tính bi tráng qua diện mạo của họ

                                        Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                          Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường hay đề cập đến căn bệnh sốt rét  hiểm nghèo. Quang Dũng trong “Tây Tiến” cũng không hề che dấu những gian khổ khó khăn, và sự hy sinh lớn lao của người lính. Chỉ có điều tất cả những cái đó không hiện ra một cách trần trụi, mà nó được nhà thơ phản ánh qua cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn.

_ Đoàn binh không mọc tóc : hình ảnh thơ muốn nói đến những người lính đầu trọc lốc.

è Chứa đựng trong đó là sự thật nghiệt ngã : các chiến sĩ Tây Tiến người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng cả tóc.

Còn hình ảnh

_  “quân xanh màu lá” è là nhà thơ muốn nói đến căn bệnh sốt rét rừng. Những ngày đói ăn, thiếu mặc cùng căn bệnh sốt rét đã làm các anh tóc rụng da xanh tiều tụy

Và như thế hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá”đã èphản ánh cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng ngọn tầm vông chống lại sắt thép quân thù.

Đề 16 : Phân tích làm nổi bật sức mạnh tinh thần phi thường của người lính Tây Tiến ( Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

Người lính Tây Tiến có thể ốm nhưng không yếu. Ở họ toát lên sức mạnh tinh thần phi thường. “Không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” nhưng họ vẫn :

_“dữ oai hùm”,dữ dằn oai phong như hổ. èHình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” đã nói lên chí khí hiên ngang tinh thần quả cảm. Hình tượng thơ được đặt trong thế ètương phản. Quang Dũng đã lấy cái thô, cái mộc để tô đậm cái oai phong cái dữ dằn của người lính Tây Tiến.

 Và sự dữ dằn ấy còn được thể hiện qua ánh mắt :

_“Mắt trừng”è Đó là ánh mắt giận dữ, dữ dội, nẩy lửa đầy áp đảo đối với kẻ thù.

Như vậy chỉ với mấy câu thơ,

èTác giả đã chạm khắc vào lịch sử hình ảnh đoàn quân phi thường độc đáo có một không hai trong cuộc đời cũng như trong thơ ca.

Đề 17 : Phân tích làm nổi bật nét hào hoa thơ mộng của người lính Tây Tiến ( Tây Tiến – Quang Dũng ) ?

Không chỉ có sức mạnh phi thường các anh còn có đời sống nội tâm phong phú , có những

* / Nét hào hoa mơ mộng :

Họ không phải là những người khổng lồ không tim. Nên họ cũng có những mộng mơ thật đẹp

_ Mộng qua biên giới : mộng tiêu diệt kẻ thù bảo vệ biên cương, mộng lập nên chiến công nêu cao truyền thống anh hùng.

 Còn mơ,

_ Mơ về Hà Nội dáng kiều thơm.

è Mơ tới những tà áo trắng những thiếu nữ thân quen nơi trường xưa phố cũ.

Chiến sĩ Tây Tiến vốn là các sinh siên Hà thành xếp bút nghiên theo việc cung kiếm, giàu lòng yêu nước nhưng cũng rất độ hào hoa Trong trái tim mỗi người ra trận, làm sao có thể quên được những hàng me hàng sấu. Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thân quen.

èĐó là vầng những sáng lung linh của người lính. Và chính vầng sáng lung linh ấy  đã tạo nên sự cân bằng thư thái trong tâm hồn người chiến sĩ sau mỗi chặng đường hành binh vất vả. Nó không làm thối chí nản lòng các anh mà ngược lại nó như làm tăng thêm sức mạnh, tăng thêm nhiệt tình cách mạng.

Đề 18 : Cảm nhận của em về 2 câu thơ “Rải rác …đời xanh”( Tây Tiến – Quang Dũng)?

Sự phi thường nét hào hoa của người lính Tây Tiến không chỉ được thể hiện trong tính cách của họ lúc sống chiến đấu mà còn được thể hiện một cách tập trung sâu đậm qua sự hy sinh hào hùng của họ :

                                                 Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                           Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

_Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Mới đọc qua, ta tưởng như nó chỉ làm nhiệm vụ thông báo bình thường nhưng lại có sức gợi tả thật lớn lao .

+ Từ “rải rác” không những không gợi được sự thưa thớt ít ỏi vốn có của nó mà lại gợi cho người đọc cảm giác nhiều, nhiều vô kể.( rải rác – biên cương – mồ – viễn xứ à gợi ra cảm giác dài  xa xôi hoang vắng )

+ “Mồ viễn xứ”: những ngôi mộ xa xứ. Đồng nghĩa với những ngôi mộ vô chủ không ai hương khói. Cụm từ ấy như xoáy sâu vào lòng người một sự nhức nhối xót xa đến trào nước mắt.

Những nấm mồ không tên, những cái chết vô danh vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương xa xôi hoang vắng đến ghê người. Không một giọt nước mắt mẹ già, người thân. Không một lời vĩnh biệt. Thời gian sẽ qua đi, tất cả sẽ xoá nhoà vào lòng đất. èCâu thơ  mang âm điệu trầm hùng bi tráng phơi bày hiện thực phũ phàng, đưa người ta đến vực thẳm của sự bi quan.

Nhưng mỗi lần như thế, Quang Dũng lại được nâng đỡ bởi đôi cánh của lý tưởng của tinh thần lãng mạn. Chính vì thế mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi kia như bị mờ đi trước lý tưởng quên mình vì tổ quốc của người lính Tây Tiến.

_ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

+ Đời xanh là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng.

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh : Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn . Dường như cái chết đã được đặt ra từ trước, họ đâu có băn khoăn trước sự mất còn. Cái chết với họ nhẹ tựa lông hồng.

èCâu thơ không bi quan uỷ mị mà nó vang lên như một lời thề thiêng liêng cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc theo tinh thần thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chính vì thế mà họ bất chấp tất cả gian khổ hi sinh để ra đi chiến đấu một cách kiêu hùng.

Đề 19 : Cảm nhận của em về 2 câu thơ “Áo bào …độc hành”( Tây Tiến – Quang Dũng) ?

_ áo bào thay chiếu anh về đất

  Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Các tráng sĩ giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Còn các chiến sĩ Tây Tiến chỉ có chiếc áo rách vai mà các anh gọi là

+  áo bào :Thực ra đó cũng chỉ là cách nói sang trọng, một cái cười gượng gạo trên môi nhà thơ trước một thực tế quá trần trụi đâu buốt tâm can : Họ hy sinh mà không một manh chiếu che thân.

+ Anh về đất là è các anh đã chết, đã hy sinh.

Chiến đấu giết giặc vì quê hương đất nước, các anh ngã xuống là các anh về đất, là nằm trong lòng đất mẹ Tổ quốc thân yêu. Anh về đất là các anh đã thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình, các anh hoá thân cho dáng hình xứ sở. Anh về đất nghĩa là hồn các anh đã hoà vào cây cỏ, sông núi để trở thành hồn thiêng đất nước.

èDiễn tả về sự mất mát lớn lao mà Quang Dũng nói thật nhẹ nhàng, thật thanh thản. Nhà thơ không dùng từ chết hay hy sinh mà là “về đất” để ca ngợi, để làm bình thường hoá vấn đề và tạo nên vẻ đẹp lãng mạn mang tính chất bi hùng.

Và người lính Tây Tiến ra đi cũng không cần một lời điếu văn, một giọt nước mắt. Mà chỉ có trời đất chứng giám, thu nhận thể xác linh hồn họ vào lòng. Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

+ Động từ “gầm” dội xuống mạnh mẽ tạo nên âm trầm vang như tiếng đạn đại bác tiễn đưa linh hồn người đã khuất về cõi vĩnh hằng, như tiếng kèn đồng trong bài chiêu hồn tử sĩ.

Sông Mã gầm lên như một nghi lễ trang trọng tiễn biệt các anh. Các anh vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Nhưng dòng sông Mã còn mãi cuồn cuộn chảy về xuôi mang theo truyền thuyết về những người con đất Việt anh hùng.

èVới cái nhìn nhiều chiều, bằng sự chọn lọc ngôn từ, tinh chọn những nét tiêu biểu nhất của người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể bất tử về người lính vô danh. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài đó, chúng hoà quện vào nhau, nương tựa nâng đỡ cho nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng, thần thái chung của bức tượng đài.

 

 

 

THUỐC (Clik )

SÔ-PHẬN CON NGƯỜI (Clik )

CHIẾC-THUYỀN NGOÀI XA (Clik )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: