Phía trước là chân trời

+ Gía trị n/đạo

Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Qua cái phông đặc biệt nhàu nát ảm đạm, tối tăm nghiệt ngã: Trận đói năm Ất dậu, Kim Lân không chỉ lên tiếng tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến mà đồng thời cũng là đòn bẩy cho mảng sáng của tình người tỏa sáng. Trong tác phẩm này, nhà văn dường như hòa nhập cùng nhân vật. Kim Lân dường như cũng thấy có “một cái gì mới mẻ lạ lắm”, “trong người êm ái lơ lửng như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Với sự hóa thân đến độ thần bút, ông muốn gieo vào lòng người đọc cảm xúc : Sự đói khát không làm người ta bị quan chán nản, không làm giảm giá trị của tình người, ngay cả khi người ta tưởng chừng không cần gì ngoài một miếng ăn.

Lòng yêu thương  của tác giả được thể hiện trước hết ở

1/ Trân trọng và thể hiện tinh tế niềm khát khao tổ ấm gia đình của những con người bất hạnh.

Niềm khát khao ấy được thể hiện dặc biệt rõ nét qua nhân vật Tràng

a/ Tràng, một người xấu xí thô kệch có nét dở hơi lại là dân ngụ cư, có khả năng ế vợ suốt đời

Tràng là nhân dạng được hóa công gọt đẽo quá sơ sài: “thân hình to lớn vập vạp”, “cái lưng to rộng như lưng gấu”,“hai mắt nhỏ tí, gà gà”, “bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa  lí thú vừa dữ tợn”, “hắn có tật vừa đi vừa nói, hắn lảm nhảm thân thở những điều hắn nghĩ”…To xác lớn tuổi nhưng hay chơi với trẻ con, đứa túm đằng trước, đứa kéo đằng sau, đứa cù đứa kéo, nhưng “Tràng chỉ ngửa cổ lên trời cười hềnh hệch”, một điệu cười vô thức vô cảm

Một người như thế, trong suy nghĩ của mọi người, Tràng sẽ ế vợ suốt đời.

Nhưng dưới con mắt của Kim Lân, Tràng chẳng thua kém bất kì ai. Với lòng tự trọng và sức lao động lương thiện của mình, anh có quyền sống và quyền khát khao hạnh phúc như bất kì ai ở làng quê của anh

b/ Kim Lân đã phát hiện và trân trọng cái khát khao sống, khát khao hạnh phúc của Tràng

Giữa cảnh đói sẫm lại, giữa lúc cõi dương nhòa vào cõi âm, trần gian mất mé miệng vực âm phủ, anh chàng tốt số dao hoa ấy đã nhặt được vợ – biểu trưng của hạnh phúc.

*/ Thực ra Tràng không chủ tâm đến với hạnh phúc mà chỉ đùa thành thật.

Chẳng mất công mai mối cưới hỏi mà chẳng qua chỉ vài câu hò cho đỡ mệt trong một lần gò lưng kéo cái xe bò lên dốc tỉnh : “Muốn ăn cơm trắng với giò này – Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”. Đâu ngờ cái hình ảnh cơm trắng mấy giò ấy lại có sức hấp dẫn đến thế. Và câu hò đã là nhịp cầu nối đưa Tràng đến với hạnh phúc bất ngờ. Bảo rằng họ có tình yêu trước hôn nhân. Bởi ngôn ngữ yêu đương của họ chỉ là “Rích bố cu, hở”, “Hà, ngon ! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”. “Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi về cùng”. Lời yêu đương của họ đại loại như thế. Nếu có gì chăng nữa chũng chỉ là bốn bát bánh đúc mà người đàn ông nổi hứng khao và người đàn bà “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng trò chuyện gì. Bốn bát bánh đúc đủ phép màu nhiệm làm cho hai mắt trũng hoáy của người phụ nữ đói rách ấy sáng lên. Thật xót xa khi phải nghĩ rằng chính cái đói quay đói quắt kia đã xe duyên cho một mối tình.

Hạnh phúc đến quá bất ngờ và nằm ngoài sự mong đợi khiến Tràng không khỏi ngỡ ngàng và lo sợ. Đem một người bàn bà xa lạ về làm vợ trong hoàn cảnh đói sẫm lại như vậy mẹ sẽ nghĩ sao ? Mẹ có quyền không đồng ý, có quyền trách mắng ! Tràng lo lắm ! Chưa kể đến miếng ăn hàng ngày “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”. Nhưng rồi anh “chậc kệ”. Một quyết định có vẻ rất tầm phơ đối với một sự việc trọng đại nhất trong đời người. Nhưng ta hiểu

*/ Tràng đã đánh cuộc với cái đói, cái chết để có một mái ấm gia đình như bao người bình thường khác

Nhà văn đã phát hiện ra cái khát vọng được làm người, khát vọng có một mái ấm gia đình hạnh phúc vốn luôn tiềm ẩn ở con người thô kệch chất phác như Tràng. Nay tự nó trỗi dậy dưới cái quyết định có vẻ rất tầm phơ nhưng đầy vẻ liều lĩnh của Tràng

Và không chỉ phát hiện, mà

c/ Kim Lân còn thể hiện tinh tế niềm khát khao hạnh phúc của Tràng thông qua diễn biến tâm lí éo le phúc tạp của anh

*/ Nhà văn (cũng là Tràng) không hề gợn trong tình cảm của mình một chút gì của sự rẻ rúng coi thường theo không

_/ Khi miêu tả cuộc dắt díu vợ về làng  (dẫn chứng – phân tích )

_/ Khi về đến nhà rồi

“Tràng đứng tây ngây giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ”. Rồi hắn thấy buồn “ồ sao lại buồn thế nhỉ ?”. “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ”. Tình huống trên gợi ra một trạng thái tinh tế của lòng người : chông chênh, khó nói, cái gì cũng chập chờn như có như không. Đây là niềm vui hay nỗi buồn , nụ cười hay nước mắt ?

Và cả khi

_/ Tràng giới thiệu vợ với mẹ

“Kìa, nhà tôi nó chào u”, ta thấy rất rõ không chỉ là niềm khát khao một mái ấm gia đình mà còn chứa đựng trong đó sự tôn vinh giá trị của cô gái, là biết bao yêu thương trân trọng của nhà văn đối với những con người bất hạnh trong xã hội.

Tấm lòng ấy không chỉ đước thể hiện ở thái độ không rẻ rúng họ mà còn được thể hiện ở việc

*/ khắc họa tinh tế mọi cảm nhận hạnh phúc của Tràng

Trước Tràng có vẻ cười hềnh hệch vô thức vô cảm, nay hạnh phúc đã làm thay đổi con người Tràng. “Trong một lúc, Tràng như quên hết cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên.”

_ Anh đã quên đói khát để hướng tới hạnh phúc.

_ Và hạnh phúc đã gây men ở Tràng một thứ tình cảm mới mẻ diệu kì, có “một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng”, nó khiến Tràng cảm thấy “trong người êm ái lơ lửng như người vừa ở giấc mơ đi ra”

Con người cầu mong hạnh phúc và hạnh phúc làm thay đổi con người.  Tràng là như vậy:

_ Hạnh phúc đã biến Tràng từ một người đàn ông thô giáp trở thành đứa trẻ lớn hiền lành

Nói như thế không có nghĩa Tràng có vợ rồi thì hết thô kệch xâu xí. Song Kim Lân cho ta thấy anh Tràng  của ngày hôm nay không giống anh Tràng của ngầy hôm qua

+ Anh Tràng của ngày hôm nay ngượng ngịu đến khổ sở chỉ vì đi bên một người đàn ở nơi vắng vẻ,

“tay nọ xoa xoa vào vai bên kia”, “muốn buông một vài câu tình tứ mà chẳng biết nói thế nào”.

Rồi đến khi chị vợ hỏi, thì lại

+ Trả lời vợ một cách ngờ nghệch ngây thơ

rằng : “có một mình tôi mấy u”. Rôi cả chi tiết

+ Tràng còn hãnh diện tự hào khoe chai dầu con trong tay.

Lúc này ta thấy Tràng có vẻ gì đó thật buồn cười, thật trẻ con nhưng cũng thật ga lăng lãng mạn. Tràng đang hạnh diện vì được làm một người chồng, có một tối tân hôn, được tiêu hoang một chút cho cuộc đời mình có một lần sáng sủa trong hoàn cảnh túng đói này.

Hạnh phúc làm Tràng cảm thấy mình như người ở trong giấc mơ đi ra. Nhưng rồi hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành

_ niềm vui hiện hữu của một gia đình cụ thể

Gia đình, đó là niềm vui giản dị lớn lao không gì sánh nối. Trước kia anh không dám mơ ước, nhưng nay đã là hiện hữu

+  “Bỗng nhiên hắn thấy hắn yêu thương và gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”.

“Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng với vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ che mưa che nắng. một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Đó là niềm vui thật cảm động lẫn lộn cả thực và mơ.

Không chỉ yêu thương và gắn bó mà

+ Tràng còn có trách nhiệm với gia đình

“ Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà kia”

So với cái dáng ngật ngưỡng ở phần đầu tác phẩm thì hành động “xăm xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt thay đổi cả số phận lẫn tính cách của Tràng : từ đau khổ sang hạnh phúc; từ chán đời sang yêu đời; từ ngây dại sang có ý thức. Tràng đã thực sự phục sinh tâm hồn. Đó chính là giá trị lớn lao của hạnh phúc.

_ Anh có niềm tin và hương về tương lai tươi sáng.

Kết thúc thiên truyện là chi tiết : “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Một kết cấu như thế chứa đựng bao nhiêu sức nặng về nội dung và nghệ thuật. Vắng bóng chi tiết này, thiên truyện sẽ sa vào lối kết cấu khép của văn học hiện thực phê phán. Sự bổ sung chi tiết này tạo ra kết cấu mở khiến tác phẩm thực sự vượt qua phạm trù của văn học 30 – 45 để bước tới phạm trù của văn học hiện đại. Nhờ thế thiên truyện đóng lại mà số phận nhân vật vẫn tiếp tục mở ra. Cái lá cở đỏ kia như tín hiệu của một sự đổ đời, một sự thanh toán triệt để kiểu số phận bế tắc như anh Pha, chị Dậu…

Giá trị nhân đạo của tác phẩm không chỉ ở sự phát hiện và trân trọng cái khát khao một mái ấm gia đình của Tràng mà còn thể hiện ở sự

2/ Ca ngợi tình thương giữa những người nghèo khổ (như bà cụ Tứ với người vợ nhặt của Tràng)

a/ Bà cụ Tứ xuất hiện trong bóng hoàng hôn tê tái

khi con trai bà dẫn một người đàn bà xa lạ về nhà

Cơ ngơi của mẹ là một mái nhà tranh “đứng rúm ró trên mảnh vườn  mọc lổn nhổn những bụi cỏ dại”. Sau tấm phên rách nát là những “niêu bát, sống áo vứt bừa bãi cả trên giường dưới đất”.

Còn mẹ với tiếng ho“húng hắng ho” và dáng lọng khọng đi vào ngõ vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán những gì trong miệng –>dáng hình gầy gầy còng còng vì sương gió và cả những nỗi lo âu phấp phỏng của mẹ qua từng bước chân chậm chạp.

Và khi

b/ thấy một người đàn bà đứng ngay đầu giường con mình, bà hết sức ngạc nhiên

_ Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong cái đầu óc già nua của bà

“Người đàn bà nào lại đứng ở đầu giường con mình thế kia ? Sao lại chào mình bằng u ? Không phải con cái Đục mà ? Ai thế nhỉ ? Phải ! Bà làm sao ngờ được rằng giữa lúc đói, nhà nghèo mà con bà lại dẫn về nhà một người vợ. Tràng nhắc đi nhắc lại mấy lần “ Kìa nhà tôi nó chào u”

_ Nhưng bà vẫn không hiểu.

“Ô hay, thế này là thế nào nhỉ ? Bà lão băn khoăn ngôi xuống giường”. Cho đến khi Tràng nhắc lại “nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ”, thì lúc đó

_ Bà lão mới vỡ lẽ

“Bà lão cúi đầu nín nặng. Bà lão hiểu rồi”. Sự im lặng đầy nội tâm. Và trong cái khoảnh khắc im lặng ấy, có đến hàng trăm hàng nghin lo toan trong “lòng mẹ và người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự” vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình. Và chính lúc cúi đầu cũng là lúc

c/ Mẹ Tứ chấp nhận hạnh phúc của con

_ Chấp nhận con dâu lúc này là mẹ Tứ chấp nhận cái đói cái chết đang đe dọa gia đình mẹ.

Chắc hẳn mẹ nghĩ lung lắm. Trong cái dáng cúi đầu nín lặng, có cả

_ sự (bà) thương con tủi phận. “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì …”Và khi nghĩ đến bổn phận, mẹ đau đớn thốt lên rằng “kể có ra làm được dăm mâm thì phải đấy nhưng nhà mình nghèo”. Rồi bà nghĩ đến ông lão, đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ cực của cuộc đời mình

_ Mẹ đã khóc

+ Mẹ khóc khi mẹ hiểu cảnh ngộ có vợ của con mình “Trong đôi mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt”. Câu văn như một đoạn phim cận cảnh: Một đôi mắt hằn dấu chân chim vất vả của mẹ Tứ, và từ khóe mắt ấy rỉ ra những giọt nước mắt khô héo, những lo toan vất vả đã vắt kiệt sức mẹ

+ Mẹ khóc khi nghĩ đến bổn phận của mình chưa tròn.

“Mẹ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”. Đó là những giọt nước mắt lấp lánh tấm lòng tấm lòng vị tha cao quí của mẹ.

_ mẹ lo cho các con

Niềm vui vì con có vợ bị chìm đi trong nỗi lo lắng yêu thương “Biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cái cơn đói khát này không ?”. Đó là nỗi lo chính đáng của người đã trải nghiệm một cuộc đời cay cực.

Nhưng thương con tủi phận để rồi

_ mẹ thương dâu

Mẹ “đăm đăm nhìn người đàn bà” như để nhận mặt kẻ đồng hành khốn cùng trong cuộc đời nghèo khổ với bảo cảm thông. Và không chỉ có vậy, mà biết bao tình yêu thương của mẹ dồn tụ trong một câu nói nói giản dị “chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá…” Khi nói hai chữ “chúng mày” là mẹ đã từ tình thương con trai sang thương con dâu. Hoàn cảnh đói khát đến chết người, vậy mà nổi lên trên cái nền ấy vẫn là một khối đầm ấm thương yêu của tình mẹ, tình giai cấp của những người đồng cảnh ngộ. Truyền thống ngàn đời của dân tộc ta thương người như thể thương thân,; lá lành đùm lá rách được Kim Lân gửi gắm qua những trang viết đầy xúc động.

Thương con dâu

_ Bà tự an ủi mình

“Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi thì phận bà là mẹ, bà chẳng lo lắng được cho con…”Trong suy nghĩ của mẹ, ta thấy nhoi nhói một tình cảm tủi hờn cho số kiếp vừa như cố nén một cảm giác bất đắc dĩ trước một sự việc đã rồi, lại vừa rưng rưng xao xuyến một niềm vui

+ Bà đi đến quyết định

“Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”Mẹ gọi người đàn bà xa lạ kia là “con” và nói “u cũng mừng lòng”, chứ không phải u cũng bằng lòng. Biết bao ân tình trong tiếng con và tiếng mừng lòng ấy. Nén nỗi buồn tủi và sự lo âu trong lòng,

d/ Mẹ Tứ vẫn hi vọng và tin tưởng vào tương lai tốt đẹp

Trước hoàn cảnh ngặt nghèo của cái đói

_ Mẹ vẫn hi vọng vào tương lai “may ra qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ”.

_ Và mẹ còn động viên các con tin tưởng vào tương lai: “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông trời cho khá…Biết thế nào hả con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Thật là một niềm tin bất diệt. Phải chăng niềm tin ấy nó có cội nguồn xa xưa trong những câu ca dao “dẫu dừng chết mất đấy thôi, sống còn có lúc no xôi chán chè”. Không chỉ hi vọng tin tưởng mà

_ mẹ còn muốn biến nó thành hiện thực. “Cái mặt bủng beo u ám của bà cũng rạng rỡ hẳn lên”.

+ “Bà lão xăm xăm thu don quét tước nhà cửa”. Rồi “bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn”

+ “Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này”. Tất cả như vẽ ra trước mắt ta một khung cảnh đầm ấm thuận hòa của một gia đình bình thường nhưng lại rất bất bình thường trong những ngày tháng  năm 45. Du chẳng vẹn tròn, nhưng cũng phần nào mẹ đã gieo vào lòng đôi vợ chồng trẻ niềm tin ngày mai, một ngày mai tươi sáng hơn đang chờ đợi họ.

Cảm động thay, Kim Lân lại để cái ánh sáng niềm tin ấy tỏa ra từ

+ nồi cháo cám

Người đọc như cười ra nước mắt trước sự hào hứng vui vẻ khi bà lão lễ mễ bưng nồi cháo cám còn bốc khói nghi ngút lên nhà, đon đả mời mọi người “cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem”. Miếng cháo cám chát xít nghẹn bứ trong cổ mà ngon ngọt trong lòng.

–>Dường như bà đang cố xua đi không khí ảm đạm, cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng sự tươi tỉnh động viên các con. Chọn hình ảnh nồi cháo cám là Kim Lân muốn chứng minh cho cái chất người

–>Trong bất kì hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hi vọng cũng không thể bị tiêu diệt.

Nhưng Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn. Bên cạnh vẻ tươi tỉnh cũng như niềm vui của bà cụ Tứ, ta con biết lòng người mẹ đang thổn thức. Tội nghiệp thay niềm vui của bà lão, cái niềm vui không cất cánh lên được. Bởi vẫn còn đó tiếng trống thúc thuế dồn dập khiến niềm vui không trọn vẹn.

+ “Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc”, nhưng người đọc thì thấy rất rõ những giọt nước mắt trong lòng bà, thấy rất rõ những giọt nước mắt của Kim Lân khi viết những dòng này

==> Bằng một cốt truyện đơn giản, tình huống truyện độc đáo, tính cách nhân vật được xây dựng sinh động, đi sâu và diễn tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật; và bằng tất cả sự nâng niu trân trọng, Kim Lân đã để trái tim mình đập cùng nhịp với trái tim với trái tim người mẹ nông dân nghèo. Qua đó, Kim Lân như muốn gửi đến cho người đọc một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn : Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không thể chịu đựng được nữa. Hay nói một cách khác, Vợ nhặt là bài ca về tình người ở những kẻ nghèo khổ, đã biết sống cho ra con người ngay giữa thời buổi túng đói quay quắt

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: