Phía trước là chân trời

Ôn Hạnh phúc..

A11 NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG BẬC THÀY của Vũ Trọng Phụng

NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG BẬC THÀY của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia 

 “Số đỏ”, “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học”.Với Số đỏ, người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê, thoải mái. Nhưng cũng với Số đỏ người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời, cái xã hội gì, cái lũ người gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân bạc ác đến thế.

Với nghệ thuật trào phúng bậc thày, mỗi chương của tác phẩm Số đỏ chính là màn hài kịch. Chương XV Hạnh phúc của một tang gia là một trong những màn hài kịch đặc sắc nhất

Để dàn dựng một màn hài kịch cười, tác giả trước hết phải tạo ra được một

a/ Tình huống gây cười.Và Vũ Trọng Phụng đã làm được điều đó thông qua một đám ma gương mẫu

Trong cuộc sống có rất những hoàn cảnh điển hình giúp ta hiểu được nhân cách của một con người, cũng như bản chất của một xã hội. Đám ma là một sự kiện như thế. Bởi hơn ở đâu hết, thái độ của con người trước cái chết của người thân của đồng loại,chiều sâu của sự xót thương ấy cũng là chiều sâu phẩm chất người.  Vũ Trọng Phụng đã dùng cái chết của người thân làm phép thử độ sáng của đạo hiếu trong gia đình, dùng cái chết đồng loại làm phép thử độ sáng của tình người. Để qua đó phơi bày tất cả sự đồi bại của xã hội thượng lưu trưởng giả mà thực chất chỉ là một xã hội ma cà bông với những diễn viên hài siêu hạng như Xuân Tóc Đỏ Phán mọc sừng….

b/ Để triển khai tình huống, dàn dựng một màn hài kịch cườitác giả trước hết phải phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng, phóng đại nó lên.Và tiếng cười được bật ra từ đó. Đúng như vậy, trong suốt toàn bộ đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã tập hợp và miêu tả những tâm trạng, hành vi, cách ứng xử, thái độ hoàn toàn trái với chuẩn mực đạo đức thông thường.

*/ Mà dụng tâm đầu tiên của nhà văn là ở nhan đề của đoạn trích

Nhan đề của một tác phẩm (hay một đoạn trích),  không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà trong đó nó chứa đựng nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Chương XV : Hạnh phúc của một tang gia (số đỏ của Vũ Trọng Phụng) là một nhan đề như vậy.Tên đầy đủ của chương truyện  là : Hạnh phúc của một tang gia , Văn Minh nữa cũng nói vào, một đám ma gương mẫu…

+ Hạnh phúc là niềm vui, sự mãn nguyện

+ Tang gia là gia đình có người vừa mất. Không khí bao trùm gia đình này là sự sầu thương não nề.

Tang gia mà lại hạnh phúc! Nhà có người chết mà lại vui!

Hạnh phúc và tang gia, hai khái niệm này khó có thể tồn tại bên cạnh nhau. Ấy vậy mà Vũ Trọng Phụng đó kết hợp chúng với nhau. Đọc tên của chương truyện, chúng ta không khỏi bật cười bởi cách thông báo hóm hỉnh của nhà văn. Nội dung sự việc là đau đớn, bất hạnh. Vậy mà “tang gia” lại có ”hạnh phúc”! Mà lại là hạnh phúc to lớn cứ đầy ăm ắp, tràn ra không nén nổi, vì cái chết của cụ Tổ  “đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”,, vì “cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành” và cũng là vì cái đại gia ấy có dịp để khoe của, khoe giàu phô cái sang cho thiên hạ biết. “Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…”, “tang gia ai cũng vui vẻ cả”.  Việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy mà, ngôn từ của tác giả dành nó lại hỗn độn, pha trộn chữ Hán, chữ Nôm, nào hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương mẫu. cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy! Và sự vui đùa ấy đó mở màn cho vở hài kịch mà trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cuời: đám tang nhưng không phải là đám tang, mà là một đám…. rước. Con người nhưng không phải là con người mà là…. những hình nhân dị dạng, những quái vật. Và cũng bằng sự vui đùa ấy, tác giả đó miêu tả đám tang cụ cố Tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở VN những năm 30 – 45 của thế kỉ XX

*Không chỉ có vậy, nét độc đáo của (tình huống truyện) nghệ thuật trào phúng còn được thể hiện ở chỗ: tác giả đó miêu tả đám tang cụ cố Tổ – một đám ma gương mẫu trong sự đối lập giữa hình thức với nội dung, giữa giả và thật.

Bề ngoài là một đám ma to tát và long trọng “có thể làm cho người chết năm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không cũng gật gù cái đầu”. Đám ma được tổ chức linh đình, đủ kiểu cách, lễ nghi theo cả lối ta, tây, tàu.Đám ma rất to, to chưa từng thấy ở đất Hà thành xưa nay. Có đủ cả kiệu bát cống, lợn quay đi lọng; vài ba trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa, vài trăm người đi đưa.  Đám đi đến đây làm huyên náo đến đó Kèn ta, kèn tây, kèn tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên…

Nhưng thực chất chỉ là một sự lừa bịp vĩ đại. Cả đám đeo cái mặt lạ lớn hợp thời trang : kẻ thì “đăm đăm chiêu chiêu”, kẻ thì “đau khổ một cách rất chính đáng, có thể tự tử được”, kẻ thì oặt người đi khóc hứt hứt hứt mãi không thôi, không phải để thương xót kẻ xấu số . Đám bạn bè cụ Cố Hồng :  có dịp khoe những bộ ngực đầy huân, huy chương và những bộ râu ria mốt nhất. Trong tiếng kèn ai oán của đám tang, người ta nghe thấy tiếng thì thầm với nhau về những chuyện vợ con, chuyện sắm một cái áo, cái tủ…. bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, “than thở” việc “vợ béo, chồng gầy”.

 _ Đám giai thanh gái lịch hà thành đang trên con đường Âu hóa : Họ đi vừa đi đưa tang vừa cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau… và mỉa mai thay họ làm tất cả điều đó bằng vẻ mặt buồn rầu của người đi đưa đám ma.

_ Người dân hai bên đường :  đổ xô ra xem như xem một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cũng cảm thấy hết sức sung sướng và hàng phố nhốn nháo cả lên khen đám ma to

_ Còn người thân trong gia đình, ngoài được chia gia tài, họ còn có nhu cầu riêng. Cụ cố Hồng  – con trai cả của người chết.Với vị trí này, trách nhiệm của ông là lo ma chay của cha mình cho chu tất nhưng những hành động cụ thể của ông ta lại hoàn toàn trái ngược. Ông nằm dài, hút thuốc phiện và mơ màng theo khói thuốc. Ông nghĩ đến việc cưới chạy cho cô con gái Tuyết nhưng lại đùn đẩy việc cưới xin cho vợ. Cái danh mà ông mơ ước và tô vẽ là gia thế của một gia đình nề nếp, gia phong, danh gia vọng tộc. Vì thế ông đã tỏ ra già cả dù chưa đến 60 để được gọi là “ cụ Cố”. Ông sẵn sàng mùa hè mặc áo bông, trả nhầm tiền xe để chứng minh mình lẩm cẩm; luôn gắt gỏng để chứng tỏ mình già cả, ốm yếu. Nghĩ đến cái chết của bố mình, ông sung sướng đến độ đê mê nên “ đã nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!” và khen “ một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế”… Tấm lòng của người con trơ như khúc gỗ, vô cảm trước cái chết của người cha. Vai trò và tình cảm của một đứa con trong ông đã chết bởi ông chỉ nghĩ đến cái gậy mà thôi!t

Văn Minh là đứa cháu đích tôn, là “ nhà cải cách xã hội” danh giá thì sung sướng tột đỉnh vì “ Thế là từ nay, cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Mọi hành động của Văn Minh đều đối lập với trách nhiệm và tình cảm của một người cháu. Hăn mời luật sư đến chứng kiến cái chết của ông nội để đảm bảo tính pháp lí của chúc thư. Hắn còn nghĩ đến cách đối xử với Xuân Tóc Đỏ mà thực chất là tìm cách bịt miệng vì Xuân Tóc Đỏ biết những bí mật tày đình. Ông quan niệm tội bôi nhọ danh dự của người thân trong gia đình là tội nhỏ và tội làm chết người thân trong gia đình mới là cái ơn lớn. Để trả cái ơn to lớn ấy, Văn Minh đã dùng hạnh phúc trăm năm của cô em gái lá ngọc cành vàng để trả ơn cho một kẻ vô học. Ở Hắn tồn tại sự mâu thuẫn giữa cái bên ngoài là vẻ mặt “đăm đăm chiêu chiêu” của cái bối rối lo lắng rất hợp thời trang nhà có tang với cái bên trong là việc nghĩ cách đối xử với người đã mang đến cái “ ơn to” cho gia đình.

Cô Tuyết, cô cháu gái giữ gìn nửa chữ trinh, mới chỉ hư hỏng được một nửa. Mặt cô phảng phất vẻ buồn lãng mạn vì nhớ nhung nhân tình chứ không phải xót thương ông nội. Đám tang mang đến niềm hạnh phúc cho cô vì cô được mặc bộ y phục “ Ngây thơ” để chứng tỏ phẩm giá mới chỉ đánh mất nửa chữ trinh. Bộ y phục nửa kín nửa hở làm cho các ông tai to mặt lớn bạn của cụ cố Hồng cảm động thực sự, còn hơn cả “ những khi nghe tiếng kèn Xuân nữ ai oán, não nùng”

Cậu tú Tân thì “cứ điên người lên vì cậu đã sẵn sang mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến”. Ông nội chết là dịp để cậu trỏ tài đạo diễn, chụp ảnh trong dịp đám tang. Cậu tỏ ra là một tài tử chụp ảnh, những chiếc máy ảnh được chuẩn bị từ lâu nay sẽ có dịp dùng đến. Cậu và bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mộ khác nhau để chụp ảnh ở những khoảnh khác nhau. Cậu đạo diễn mọi người gục đầu, cong lưng, khóc rồi đóng kịch xót thương cho đúng không khí đám tang

Ông Phán mọc sừng là con rể của cụ cố Hồng. Ông ta sung sướng vì “ không ngờ ràng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông lại to đến như thế’, nó có giá đến “ vài nghìn đồng” Đông Dương. Phán trù tính ngay một cuộc doanh thương với Xuân Tóc Đỏ để nhân cái số vốn ấy lên. Là một diễn viên đại tài, ông Phán đã hoàn thành xuất sắc màn kịch vờ khóc thương ông vợ. Ngay cả Xuân Tóc Đỏ- kẻ chuyên đi lừa đảo người khác cũng bị lừa, chỉ đến khi hắn dúi vào tay tờ 5 đồng gấp tư Xuân mới hiểu ra bộ mặt thật của Phán

Cái khó của nhà văn là phải lật tẩy sao cho người ta thấy rõ cái giả ấy đã đành mà còn phải thấy cả tính chất lập lờ giữa cái giả với cái thật.

à Mâu thuẫn thật-giả không chỉ được nhà văn khai thác khá triệt hai lớp hình ảnh chồng lên nhau khi miêu tả sự kiện đám tang: vỏ ngoài y như thật, với tất cả hình thức hợp thời trang nhất, bên trong hoàn toàn trống rỗng. Mà còn ở chỗ, ông đã vận dụng sáng tạo bút pháp điện ảnh trong việc miêu tả đám tang gương mẫu . Để tô đậm trong lòng người đọc một đám ma to tát và long trọng, nhà văn đã lùi ra xa để quay viễn cảnh Đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy….”, “Đám cứ đi…”, “Đám cứ đi” . Cũng có lúc tác giả như tiến lại gần hơn để thu cận cảnh làm cho người ta có thể soi vào từng góc khuất, hay hành vi, chi tiết nhỏ nhất để thấy hết cái giả dối, rởm đời, nhố nhăng, kỳ quặc và “vô nghĩa lý” của cái đám tang này . “Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh, song le sự thật thì vẫn thì thầm với nhau chuyện trò về vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may.”, hoặc: “Xuân Tóc Đỏ muốn bỏ quách ra thì chợt thấy ông Phán dúi tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư…. Vậy là, nhìn từ cự ly xa nhà văn thâu tóm được trung thành cái bề ngoài có vẻ giống thật, thậm chí rất “gương mẫu”, “to tát” của đám ma. Còn nhìn từ cự ly gần, thật gần nhà văn đã lật tẩy cái giả, cái thực chất chứa đựng và được che đậy ở bên trong của nó: sự bất hiếu, bất nghĩa và thói đạo đức giả. Tiếng cười đã bật ra, rất tự nhiên, từ mâu thuẫn thật- giả này.

Không chỉ có vậy, giọng điệu mỉa mai, chua chát là giọng điệu bao trùm chươngtruyện. Câu văn mở đầu đoạn trích hàm chứa một sự đối chiếu thật – giả rất thâm thúy: “Ba hôm sau, ông cụ già chết thật.”. Nhìn từ phía tác giả, câu văn này ẩn giấu một nụ cười châm biếm (chết mà cũng có “chết thật”, chết giả?). Nhìn từ phía nhân vật (đám cháu con chí hiếu) nó ẩn giấu một tiếng reo mừng. Cụ tổ hẳn đã có những phen “chết giả” làm cho đám cháu con kia hụt hẫng thất vọng, và cả tang gia đã chờ đợi cái “chết thật” này quá lâu rồi. Cho nên, khi ông cụ “chết thật” thì người ta tất phải vui sướng hạnh phúc tột cùng. Và, tang gia “ai cũng” “hạnh phúc”, “vui vẻ cả”…, nhận xét này đã vang lên trong chương truyện như là một dụng ý đầy mỉa mai

Điệp khúc “Đám cứ đi” hẳn còn ám ảnh mãi với người đọc. Câu văn tưởng như là giọng trần thuật khách quan bình thản. Nhưng khi nhắc đến hai lần “ Đám cứ đi” , thì nó đã mang ý nghĩa mỉa mai châm biếm đám ma thật to, thiên hạ tha hồ ngắm thật kĩ cái giả dối, vô nhân đạo của đám người ấy. “ Đám cứ đi” nghĩa là sự vô liêm sỉ không khép lại mà kéo dài tưởng như vô tận.Đám ma của cụ Tổ hay là một đám rước ? Đám rước của “đám tai to mặt lớn Hà thành hay chính một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm lúc bấy giờ

Về ngôn từ, tác giả đã sử dụng những kết hợp từ độc đáo trong các câu văn để tạo nên tiếng cười hài hướcnhư “ vẻ buồn lãng mạn đúng mốt”, “chưa đánh mất cả chữ trinh”; những so sánh gây cười như “ Tuyết như bị kim châm vào lòng vì không thấy bạn giai đâu cả”….

Với nghệ thuật trào phúng bậc thày, Vũ Trọng đã vạch trần bản chất xấu xa của xã hội thượng lưu tư sản thành thị đương thời. Đó là một xã hội băng hoại đạo đức, khô héo tình người, chạy theo lối sống văn minh rởm, vô cùng đồi bại, lố lăng. Đằng sau tiếng cười không phải niềm vui mà là nỗi đau đời , là khao khát đổi thay, muốn chôn vùi xã hội ấy. 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: