Phía trước là chân trời

NHAN ĐỀ TP

1/NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM  VỢ NHẶT

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất . Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, người nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu… Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức.  Và Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp như thế.

Tác phẩm có tiền thân là “Xóm ngụ cư”. Hòa bình lập lại, tác giả viết lại dựa vào cốt truyện cũ, và đặt  tên là “Vợ nhặt”,được in trong tập “Con chó xấu xí.

Ngay nhan đề của tác phẩm đã gây được sự chú ý đặc biệt bởi sự kết hợp độc đáo của nó. Vợ là danh từ chỉ người hơn nữa còn là một người có vai trò rất quan trọng trong gia đình.”

Người xưa cho rằng tậu trâu, lấy vợ làm nhà, Trong ba việc ấy thực là khó thay. Còn”nhặt” là động từ thường liên quan đến vật, những thứ không ra gì. Để có vợ, người ta hỏi, phải cưới với bao sính lễ nhiêu khê, còn Tràng thì “nhặt” được vợ. Đem cái quí giá thiêng liêng kết hợp với thứ rẻ rúng là Kim Lân muốn thể hiện thảm cảnh khốn cùng của người dân trong nạn đói 1945 : thân phận con người như cỏ rác, có thể nhặt được ngoài đường ngoài chợ.

Nhưngvợ cũng chính là biểu trưng của hạnh phúc. Cho dù là nhặt ở ngoài đường thì bản thân “vợ” cũng đã gợi   ra một tổ ấm gia đình. Và như thế với sự kết hợp có vẻ như oái oăm vô lý, nhan đề của tác phẩm vừa gợi ra được tình huống éo le của câu chuyện, vừa gợi ra được số phận con người năm đói, cũng như khát vọng hướng tới một mái ấm gia đình của họ.

 “Vợ nhặt” là một nhan đề làm ám ảnh lòng người

2/ NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, tác giả có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất . Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, người sáng tác hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu… Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức.  Và nhan đề Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là một trường hợp như thế.  

Nhan đề của tác phẩm được xây dựng trong nghệ thuật tương phản giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt. Nếu hồn Trương Ba là ẩn dụ biểu tượng cho tâm hồn, cho thế giới nội tâm sâu kín bên trong của con người, là biểu tượng cho vẻ đẹp trong sáng thanh cao; da hàng thịt là ẩn dụ biểu tượng cho vẻ bề ngoài thể xác con người, biểu tượng cho cái xấu xa, cái dung tục tầm thường, cái bản chất thấp kém trong một con người. Thì nhan đề trên không chỉ diễn tả sinh động sự mâu thuẫn giữa thể xác và linh hồn Trương Ba mà còn là sự mâu thuẫn giữa hìnđậm h thức và nội dung của sự vật hiện tượng trong cuộc sống .

Thông qua nhan đề mang tính hình tượng này Lưu Quang Vũ đã phản ánh một hiện thực cuộc sống con người khi bị rơi vào nghịch cảnh, phải sống giả tạo bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo, không được sống đích thực là chính mình.Đồng thời, nhà văn cũng cảnh tỉnh chúng ta : khi không làm chủ được hoàn cảnh, không làm chủ được bản thân để lối sống dung tục tầm thường lấn át lối sống thanh cao trong sáng, để thể xác sai khiến linh hồn, để những ham muốn bản năng thấp kém làm cho nhân cách lệch lạc, nhoà mờ khiến tâm hồn và thể xác không còn là một thể hài hoà thống nhất. Nhan đề hồn Trương Ba da hàng thịt là một hình tượng nghệ thuật đã thâu tóm cả giá trị phản ánh hiện thực lẫn nội dung nhân đạo của tác phẩm
3/ NHAN ĐỀ CỦA ĐOẠN TRÍCH     Hạnh phúc của một tang gia

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Hạnh phúc của một tang gia” thuộc chương XV trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một trường hợp như thế. Ngay nhan đề của tác phẩm đã gây được sự chú ý đặc biệt bởi sự kết hợp độc đáo của nó.Tên đầy đủ của chương truyện  là : Hạnh phúc của một tang gia , Văn Minh nữa cũng nói vào, một đám ma gương mẫu… Hạnh phúc là niềm vui, sự mãn nguyện Tang gia là gia đình có người vừa mất. Không khí bao trùm gia đình này là sự sầu thương não nề.Tang gia mà lại hạnh phúc! Nhà có người chết mà lại vui. Hai khái niệm này khó có thể tồn tại bên nhau Ấy vậy mà Vũ Trọng Phụng đã kết hợp chúng với nhau. Nghe ra có cái gì đó thật vô lý, thật oái oăm ! Đọc tên của chương truyện, chúng ta không khỏi bật cười bởi cách thông báo hóm hỉnh của nhà văn. Nội dung sự việc là đau đớn, bất hạnh. Vậy mà “tang gia” lại có ”hạnh phúc”! Mà lại là hạnh phúc to lớn cứ đầy ăm ắp, tràn ra không nén nổi, vì cái chết của cụ Tổ  “đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”,, vì “cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành” và cũng là vì cái đại gia ấy có dịp để khoe của, khoe giàu phô cái sang cho thiên hạ biết. “Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma…”, “tang gia ai cũng vui vẻ cả”.  Việc tang là nghi lễ thiêng liêng, cần trang trọng, vậy mà, ngôn từ của tác giả dành nó lại hỗn độn, pha trộn chữ Hán, chữ Nôm, nào hạnh phúc, nào tang gia, nào văn minh, gương mẫu. cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy! Và sự vui đùa ấy đó mở màn cho vở hài kịch mà trên sân khấu hiện thật rõ hai trạng huống nực cuời: đám tang nhưng không phải là đám tang, mà là một đám…. rước. Con người nhưng không phải là con người mà là…. những hình nhân dị dạng, những quái vật. Và cũng bằng sự vui đùa ấy, tác giả đó miêu tả đám tang cụ cố Tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả cái xã hội tư sản thành thị Âu hoá rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở VN những năm 30 – 45 của thế kỉ XX

Nhan đề của một tác phẩm (hay một đoạn trích),  không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà trong đó nó chứa đựng nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Chương XV : Hạnh phúc của một tang gia (số đỏ của Vũ Trọng Phụng) là một nhan đề như thế.

 4/  NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Chí Phèo

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Chí Phèo” của Nam Cao là một trường hợp như thế. Ngay nhan đề của tác phẩm đã gây được sự chú ý đặc biệt bởi sự kết hợp độc đáo của nó._ Nhan đề đầu tiên của tác phẩm là Cái lò gạch cũ, phải chăng tác giả muốn nói đến sự  luẩn quẩn bế tắc gắn với hình ảnh Chí Phèo ở đầu truyện, khi còn là thằng bé đỏ hỏn được cuốn trong một cái váy đụp vứt ở cái lò gạch bỏ hoang và hình ảnh cuối truyện : Thị Nở sau khi nghe tin Chí Phèo đâm chết Bá Kiến và tự sát đã nhớ lại những lúc gần gũi với hắn và nhìn nhanh xuống bụng rồi thoáng thấy hiện ra cái lò gạch cũ bỏ không ở nơi vắng người qua lại ? Có thể sẽ có một Chí Phèo con ra đời cũng ở cái lò gạch ấy để “nối nghiệp” bố. Như vậy “Cái lò gạch cũ” như là biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với tuyến chủ đề chính của tác phẩm_ Nhưng khi in thành sách năm 1941, nhà xuất bản Đời Mới tự ý đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Nhà xuất bản muốn hướng sự chú ý của bạn đọc vào mối tình của Chí Phèo và thị Nở, một con quỉ dữ của làng Vũ Đại “mặt mũi bị vằn dọc, vằn ngang” và một mụ đàn bà xấu “ma che quỉ hờn”. Cách đặt tên như thế là rất giật gân, gây sự tò mò, phù hợp với thị hiếu của lớp công chúng thời bấy giờ._ Mãi đến năm 1946, tác giả mới đặt lại tên là Chí Phèo. Với cái tên này, Nam Cao không chỉ vạch ra số phận bi thảm của Chí Phèo mà quan trọng hơn, nhà văn còn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện của Chí PhèoNhan đề của một tác phẩm (hay một đoạn trích),  không đơn thuần chỉ là cái tên gọi mà trong đó nó chứa đựng nội dung tư tưởng chủ đề của tác phẩm. “Chí Phèo” của Nam Cao là một nhan đề như thế. 5  NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Chữ người tử tù

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là một trường hợp như thế. “Chữ người tử tù” được xem là một trong những kiệt tác của Nguyễn Tuân nói riêng và của văn học lãng mạn Việt Nam 1932-1945 nói chung. Tác phẩm được in trong tập “Vang bóng một thời”, nhằm ca ngợi hai chữ “Thiên lương” trong sáng“Chữ người tử tù”. Truyện ban đầu có tên là “Những dòng chữ cuối cùng”.  Với nhan đề này thì người yêu văn sẽ cảm thấy bi quan về số phận của một con người sắp bị chém đầu. Và việc cho chữ của Huấn Cao chẳng khác nào việc để lại tài sản của người sắp chết cho người còn sống.          Bằng sự nhạy cảm về nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã đổi “Những dòng chữ cuối cùng” thành “Chữ người tử tù”. “Chữ” là nói đến phông kiến thức của một con người tài cao học rộng, còn “Người tử tù” là nói đến một người tù phạm tội đang chờ thọ án chém đầu. “Chữ người tử tù” hé mở cho bạn đọc thấy số phận cũng như nhân cách của nhân vật : Một người tử tù tài ba học rộng tài cao, một nhân cách lớn. Và như thế, với cách đặt nhan đề này, nhà văn không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi cái tài, của người nghệ sĩ viết chữ đẹp – Huấn Cao. Mà còn ông còn phát hiện, khẳng định cái “tâm” trong sáng của người nghệ sĩ : biết sáng tạo và cũng biết trân trọng cái đẹp. Cái “tâm” đó không chỉ tồn tại trong con người Huấn Cao mà nó còn được thể hiện qua nhận vật Quản ngục – một con người phụng sự cái đẹp. Nếu xét trên bình diện của xã hội thì rõ ràng Huấn Cao và viên quản ngục ở hai vị thế khác nhau. Thế nhưng một khi đã yêu cái đẹp, đam mê cái đẹp thì con người ta có thể từ bỏ tù hận trở thành tri âm tri kỉ.“Chữ Người Tử Tù”, chỉ có bốn âm tiết mà Nguyễn Tuân đã gợi cho người yêu văn nhiều điều. Ông xứng đáng là nhà văn của “chủ nghĩa duy mỹ”.6/NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Rừng xà nuQuá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là một trường hợp như thế.  Rừng xà nu được viết 1965, khi quân Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam_ Tác phẩm được đăng lần đầu trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội Giải Phóng miền trung Trung Bộ, số 2, 1965. Sau được đưa vào tập truyện và ký Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc 1969.Với tác phẩm này, nhà văn có thể lấy không gian của truyện để đặt tên đặt tên như “Làng Xô-man” hay “Tnú”- nhân vật chính của truyện. Nhưng nếu như vậy truyện sẽ mất đi tính khái quát và gợi mở.  “Rừng xà nu”- Tên tác phẩm không chỉ có ý nghĩa thực, miêu tả đặc điểm và sức sống bất diệt của loài cây xà nu, gợi khí vị khó quên của núi rừng Tây Nguyên, mà còn mang ý nghĩa tượng trưng, biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân làng Xô man , của con người Tây nguyên thời đánh Mỹ. Hai ý nghĩa này hòa quyện vào nhau làm nổi bật cảm xúc của nhà văn cũng như linh hồn tư tưởng chủ đề của tác phẩm.7/  NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Chiếc thuyền ngoài xaQuá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên. Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất.

Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một trường hợp như thế.  Tác phẩm được sáng tác 8/ 1983. Tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự, nhìn hiện thực đa chiều, bao gồm cả những qui luật tất yếu lẫn những cái ngẫu nhiên rủi ro khó bề lường hết, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tình yêu tha thiết đối với  những cảnh đời, nhưng thân phận trớ trêu của con người và gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật : Nghệ thuật chân chính phải luôn gắn bó với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách đơn giản,  một chiều mà phải nhìn nhận cuộc sống con người một cách đa diện, nhiều chiều. Với thông điệp ấy, ông đã đặt nhan đề cho tác phẩm của mình là “Chiếc thuyền ngoài xa”Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là biểu tượng của nghệ thụât. Đó là thứ nghệ thụât đạt tới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức khi chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình như được thanh lọc.– Nhưng khi về gần bờ, chiếc thuyền là không gian sinh sống của gia đình người hàng chài, lại là hiện thân của cuộc đời lam lũ, khó nhọc, thậm chí của những éo le, trái ngang– Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng cuộc đời thì lại rất gần. Người nghệ sĩ cần có một khoảng cách nhất định để khám phá và thưởng thức vẻ đẹp đích thực của nghệ thụât nhưng lại cũng cần bám sát thực tế để phát hiện ra những sự thật của cuộc sống. Xa và gần, bên ngoài và sâu thẳm…đó cũng là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.– Nhan đề là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật !8/ NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM Những đứa con trong gia đình

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên . Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất. Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức. . Và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là một trường hợp như thế.

Tác phẩm được viết vào tháng 2/ 1966, ngay trong những ngày nhân dân miền Nam chiến đấu ác liệt chống đế quốc Mĩ

Thông qua hồi ức của Việt –  thành viên của một gia đình cách mạng, nhà văn muốn ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng của một gia đình nói riêng cũng như của nhân dân miền Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Với thông điệp như thế, Nguyễn Thi đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là “Những đứa con trong gia đình”

– Những đứa con ở đây vừa là Việt và Chiến – thế hệ trẻ sinh ra và trưởng thành trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ ác liệt, cũng vừa là những con người, những thế hệ (ba má Việt, chú Năm, Chiến, Việt..) trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc.

– Hai chữ gia đình trong nhanđề không chỉ là cái gia đình nhỏ của hai chị em Chiến, Việt mà còn là cả một dòng họ, là đại gia đình gồm nhiều thế hệ .Nhưng Những đứa con trong gia đình còn có thể hiểu là các thế hệ người dân miền Nam trong đại gia đình miền Nam ruột thịt, là lớp lớp con người Việt Nam yêu nước thương nhà trong gia đình tổ quốc thân yêu đang vùng lên mạnh mẽ trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

– Nhan đề Những đứa con trong gia đình còn ẩn chứa cách lí giải của nhà văn về sức mạnh tinh thần kì diệu củacon người Việt Nam thời chống Mĩ và quan niệm của ông về người anh hùng: họ không chỉ là sản phẩm của thời đại mà còn là sự tiếp nối, kế thừa và phát huy một truyền thống, một di sản thiêng liêng mà các thế hệ cha anh đã truyền lại

Những đứa con trong gia đình là một nhan đề gợi nhiều ý nghĩa

9/NHAN ĐỀ CỦA TÁC PHẨM “Ai đã đặt tên cho dòng sông

Quá trình sáng tạo của nhà văn cũng giống như quá trình“mang nặng đẻ đau”của người mẹ. Và cũng giống như người mẹ , nhà văn lại dành  bao yêu thương, bao trăn trở tìm cho đứa con tinh thần của mình một cái tên .

Để từ đó, nhà văn có thể gửi đến bạn đọc những thông điệp của tác phẩm một cách nhanh nhất, khái quát nhất. Thông thường, khi đặt tên cho tác phẩm, nhà văn hay theo mấy khuynh hướng sau: Một là khái quát chủ đề tác phẩm (Đất nước đứng lên, Vỡ bờ, Sóng gầm…), hai là lấy tên nhân vật chính làm tên tác phẩm (Chí Phèo, Chị Tư Hậu, Tố Tâm…), có khi lấy bối cảnh thời gian hoặc không gian (Gió đầu mùa, Làng…). Cũng có khi  nhà văn dùng một hình ảnh một chi tiết tiêu biểu.. . Dẫu khuynh hướng nào thì tên tác phẩm cần giàu sức gợi mở, kích thích được tối đa khả năng tưởng tượng của người thưởng thức . Và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của  Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trường hợp như thế.

Ai đã đặt tên cho dòng sông” được viết ngay sau chiến thắng mùa xuân 1975in trong tập bút kí cùng tên. Nhà văn muốn thông qua vẻ đẹp huyền thọai của dòng sông Hương bộc lộ tình yêu quê hương đất nươc trong chiều sâu của lịch sử văn hóa. Với thông điệp ấy,ông đã chọn cho đứa con tinh thần của mình một cái tên thật đẹp, thật ấn tượng :  “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?”

 Nhan đề tác phẩm là một câu hỏi, diễn tả một thoáng ngẩn ngơ rất thi sĩ của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi đứng trước vẻ đẹp thiên phú của một dòng sông. Và cũng bằng câu hỏi đó ông dẫn dắt người đọc đi tìm câu trả lời bằng cách trở về với huyền thoại đẹp của dòng sông : Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm kể lại rằng vì yêu quí con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi”.Không ai khác, chính những người dân bình thường – những con người sáng tạo ra văn hóa, lịch sử “đã đặt tên cho dòng sông”. 

Nhan đề của tác phẩm là một câu hỏi và kết thúc tác phẩm cũng là câu hỏi, phải chăng nhà văn không chỉ muốn lưu ý người đọc về cái tên đẹp của dòng sông: sông thơm. Mà ông còn gửi gắm khát vọng của con người muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử cho quê hương đất nước, gợi lên niềm biết ơn đối với những người đã khai phá miền đất này

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: