Phía trước là chân trời

ÔN TIẾNG HÁT…

Ôn Tiếng hát con tàu

Posted by thaidung1611 on 16/06/2014

         

I/ MỞ BÀI :

Nếu trước Cách mạng, với “Điêu tàn”, Chế Lan Viên trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Thì sau cách mạng, ông đã đến với cuộc sống nhân dân đất nước thấm nhuần ánh sáng cách mạngvới khuynh hướng sử thi hào hùng và chất chính luận nóng hổi tính thời sự. Tác phẩm tiêu biểu của ông thời kỳ này là Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường chim báo bão (1967).: Nổi bật trong thơ Chế Lan Viên là chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng phong phú của thế giới hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh tài hoa . “Tiếng hất con tàu là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo ấy

II/ THÂN BÀI

(1/ Xuất xứ chủ đề)

*/ Xuất xứ

_“Tiếng hất con tàu” được sáng tác năm 1960, rút trong tập “Ánh sáng và phù sa”. Theo Trần Mạnh Hảo thì “tập thơ đã gây một tiếng vang cực lớn…đã thành cái mốc chuyển biến quan trọng trong thơ của Chế Lan Viên nói riêng, thơ Việt Nam nói chung…đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách nghĩ, cách cảm mới”.

_ Sau kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên ốm nặng, phải đi chữa bệnh dài ngày ở Trung Quốc. Trở về nước, ông vẫn còn rất yếu. Trong không khí sôi động của miền Bắc những năm bước vào công cuộc dựng xây cuộc sống mới, ông không thể đi đến các vùng đất xa xôi của Tổ Quốc, chỉ có thể bộc lộ khát vọng lên đường qua “Tiếng hát con tàu”

_ Cảm hứng bài thơ được khơi nguồn từ một sự kiện kinh tế xã hội những năm 1958 –1960 : phong trào vận động người miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc, biến Tây Bắc thành hòn ngọc ngày mai của Tổ quốc. Điều đáng quí là ở bài thơ không sa vào tuyên truyền chính trị, mà nhà thơ chỉ sử dụng sự kiện như một cái cớ để đột nhập sâu vào chính tâm hồn mình, khám phá mối quan hệ giữa con người và nhân dân đất nước. Chất tâm hồn ấy là thứ muối bể đậm đà khiến “Tiếng hát con tàu” đã mang tâm hồn thời đại bay cao, vượt qua sự kiện một thời để đến với muôn đời.

* / Chủ đề :

Như ta đã biết, với tập “Điêu tàn”, Chế Lan Viên xuất hiện giữa làng thơ như một niềm kinh dị (Hoài Thanh). Bấy giờ ông đang chìm trong nỗi cô đơn đau khổ, chỉ muốn lảng tránh cuộc đời

      Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh                                        Để nơi đó tháng ngày tôi lẩn trốn

      Một vì sao trơ trọi cuối trời xa                                              Những ưu phiền đau khổ với buồn lo

Nhưng sau cách mạng, hồn thơ Chế Lan Viên đã thay đổi. Ông đã tìm thấy cho mình niềm vui mới, một lẽ sống mới,một niềm hạnh phúc mới là từ bỏ nỗi cô đơn để hoà nhập vào cuộc đời. Ông gọi quá trình rũ bỏ ấy là cuộc hành trình từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui, “từ chân trời của một người để đến với chân trời của tất cả. “Tiếng hát con tàu”là tiếng hát của một tâm hồn trên hành trình ấy. Tác giả viết về quá trình đến với Tây Bắc, đến với nhân dân như đến với cội nguồn của cuộc sống, cội nguồn của thơ ca. Chỉ đến Tây Bắc, đến với nhân dân thì con người mới tìm thấy ý nghĩa chân chính của cuộc sống ; một thi sĩ mới tìm thấy nguồn cảm hứng đích thực của mình. Bởi khi ấy hạnh phúc của cá nhân hoà nhập vào cuộc đời . Nên

Bài thơ là khúc ca thể hiện sự say đắm khát vọng lên đường gắn bó với cuộc sống sôi động bằng tình yêu Tổ quốc và nhân dân để lao động khám phá và sáng tạo.

( 3/ Nhan đề bài thơ và khổ đề từ)

a / Nhan đề bài thơ

Cho đến hôm nay chúng ta vẫn chưa có đường tàu lên Tây Bắc. Ước mơ của Tố Hữu “Ngay mai rộn rã sơn khê, ngược xuôi tàu chạy bốn bề lưới giăng”, vẫn chỉ là ước mơ chưa thành. Nên

Đặt nhan đề Tiếng hát con tàu và vẽ ra hình ảnh “con tàu lên Tây Bắc anh đi chăng”như điều phi thực tế, nhưng đó lại là một sáng tạo nghệ thuật của Chế Lan Viên, bởi nhà thơ viết theo lối tượng trưng hoá

+ Bấy giờ, trên khắp mọi miền Tổ quốc đang bừng lên một không khí sôi nổi náo nức hành quân về những miền xa xôi để xây dựng kinh tế mới, xây dựng cuộc sống mới cho đất nước. Chính cái èkhông khí của thời đại đã khiến nhà thơ tìm đến hình tượng một đoàn tàu hăm hở khẩn trương để diễn tả cuộc hành trình lên đường.

+ Hơn nữa àtrong tâm tưởng của Chế Lan Viên cũng đang diễn ra một cuộc đấu tranh, nhà thơ đang phải đấu tranh với chính mình, từ bỏ tư tưởng hẹp hòi, từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của riêng mình để tìm kiếm những tư tưởng lớn, những lẽ sống mớiĐó thực sự là một cuộc hành trình trong tư tưởng, một cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy tin tưởng. Có lẽ vì thế mà Chế Lan Viên đã tìm đến àhình ảnh con tàu để thể hiện cuộc hành trình tư tưởng của mình

_ Một lí do nữa các văn nghệ sĩ của chúng ta đang tạm xa cuộc sống thủ đô đông vui để đến với những miền xa xôi của Tổ quốc mà xâm nhập thực tế, tìm hiểu cuộc sống. Tức là họ tìm về với nhân dân.

èChế Lan Viên đã tạo ra hình ảnh con tàu vừa hư ảo, làm hình tượng trung tâm của bài thơ. Và với hình tượng này, nhà thơ đã bày tỏ lòng yêu nước nhiệt thành, lòng yêu cuộc sống rộng mở. Người ta thấy ở đó toàn bộ tinh thần trách nhiệm của một con người đối với nhân dân, Tổ quốc và trách nhiệm của một thi sĩ đối với thơ ca.

b / Khổ thơ đề từ                                       

Các tác phẩm ta thường gặp những lời đề từ, có khi là một câu châm ngôn, có khi là một câu thơ hay đơn giản là những  ý tưởng sâu sắc. Lời đề từ ấy có thể là của chính tác giả, có thể là của người khác. Nhưng 

_ Lời đề từ được xem như là tiền đề gợi hứng, gợi ý, gợi tứ cho người viết lên tác phẩm ấy. Có những lời đề từ không gắn trực tiếp với nội dung tác phẩm, nhưng lại có những lời đề từ tựa như một chiếc chìa khoá giúp người đọc mở được tác phẩm. Lời đề từ của “Tiếng hát con tàu” là trường hợp như thế.

_ ở khổ thơ này dường như Chế Lan Viên muốn giải thích sơ bộ ý nghĩa các hình tượng được xây dựng trong bài thơ.

 Khổ thơ được viết theo lối lý giải ý nghĩa hình tượng của Tây Bắc và mối liên hệ giữa Tây Bắc với nhà thơ, với Tổ Quốc

+ Tây Bắc : Trước hết đó là một địa danh thực, một miền đất cực tây của Tổ Quốc. Nơi ấy gắn với những kỉ niệm của mười năm kháng chiến tình nghĩa. Và chừng như sợ rằng người đọc chỉ hiểu chữ Tây Bắc theo nghĩa hẹp đó, nên tác giả thuyết minh cho rõ hơn ý nghĩa mà mình gán cho địa danh này

+  Đó còn là những miền đất xa xôi, là hiện thân của Tổ Quốc          

                                      Tây Bắc ư ? Có gì riêng Tây Bắc ?

      Câu thơ được đặt dưới hình thức hỏi đáp. Không chỉ hỏi bằng một câu hỏi mà đáp cũng bằng một câu hỏi. Sự hỏi đáp ấy như àđể tăng thêm sự nhận thức của nhà thơ cũng là sự tự lí giải rõ hơn cho bạn đọc thấy Tây Bắc còn là những miền đất xa xôi, là hiện thân của Tổ Quốc.

Thi sĩ đến với Tây Bắc cũng có nghĩa là đến với những miền xa xôi của Tổ Quốc và cũng có nghĩa là đến với nhân dân với đất nước.

→Bao trùm khổ thơ là niềm tự hào về một tình yêu lớn của nhà thơ đối với Tây Bắc, với mọi miền xa xôi đối với đất nước yêu thương.

Và những tình yêu ấy, những ý nghĩ ấy mang tính hướng ngoại. Điều độc đáo là

+ nhà thơ thấy Tây Bắc ở chính trong lòng mình

                          Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu

Có tình cảm cao đẹp đó là do :

+ Điều kiện chủ quan : Khi lòng ta đã hoá những con tàu

    Lòng ta đồng nghĩa với con tàu.Nghĩa làè tự thân ta đã sống với một khát vọng đẹp, muốn từ bỏ thế giới nhỏ hẹp, từ bỏ cái tôi để đến với cái ta, đi đến mọi miền của Tổ Quốc để hiến dâng để phục vụ

+ Điều kiện khách quan : Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát

Đó là èhiện thực xã hội, là không khí của thời đại, nhân dân khắp các miền phấn khởi hào hứng xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới. Đó là một thời kì rất đẹp, rất sôi động mà Tố Hữu cũng đã từng ca ngợi “là bài thơ miền Bắc, rất tự do nên tươi nhạc tươi vần”

Và với điều kiện khách quan và chủ quan và chủ quan ấy thì hệ quả tất yếu phải dẫn tới:

_“Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”è Câu hỏi tu từ vang lên kiêu hãnh, biện pháp so sánh cách nói mới mẻ hấp dẫn biểu lộ tâm hồn mình đã hoà nhập đã gắn bó, đã mến yêu nồng hậu Tây Bắc, với cuộc sống với nhân dân với Tổ Quốc. Như vậy èTây Bắc là hình tượng đa nghĩa, một biểu tượng đẹp của bài thơ

(4/ Phân tích)

Bài thơ như một bản giao hưởng tâm trạng với ba chương khúc : Trăn trở ( khổ 1-2 ), hoài niệm ( chín khổ tiếp ), lên đường ( phần còn lại )

(a / Khổ 1-2 : Trăn trở)

Để con tàu có thể lên tiếng hát, có thể lên đường thì công việc chuẩn bị bao giờ cũng rất quan trọng. Chuẩn bị ở đây là chuẩn bị về tư tưởng về tình cảm, có nghĩa là mình phải tự thanh toán với những vướng mắc trong bản thân mình. Bởi mọi hành động bao giờ cũng là kết quả của nhận thức. Nhận thức tốt thông suốt thì hành động sẽ trở nên thanh thản nhẹ nhàng tự tin hơn. ở chương khúc thứ nhất là sự trăn trở, tự dằn vặt về chuyện đi hay ở..Và sự dằn vặt nhận thức ấy được diễn tả qua khổ thơ :

Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?

Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng.

Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

Nếu anh giữ trời Hà nội, sống trong cái tôi chật hẹp thì « Tàu đói những vành trăng ». Nghĩa là tâm hồn người nghệ sĩ sé cạn kiệt nguồn sống, nguồn cảm hứng sáng tạo Và vì thế « Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép ». Nếu cùng bạn bè lên Tây Bắc, thì “Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia ». Trên kia chính là Tây Bắc hùng vĩ, là nhân dân là cuộc đời rộng mở, là cội nguồn sáng tao bất tận của thơ ca

èVà hình ảnh thơ được đặt trong thế tương phản giữa “Trời Hà Nội” với “gió ngàn”; giữa không gian sống của cái tôi cá nhân chật hẹp với không gian đại ngàn Tây Bắc xa xôi, hùng vĩ, rộng mở; giữa “đời anh nhỏ hẹp” với “Đất nước mênh mông”. Thêm vào đó là các động từ diễn tả hai động thái đối lập “giữ” và “rú gọi” (khư khư giữ cho mình một khoảng trời riêng hay vượt thoát khỏi thoát không gian cá nhân chật hẹp để đi theo tiếng gọi giục giã cấp thiết của miền Tây); các hình ảnh mang tính biểu tượng : “Tàu đói những vành trăng » –  Nhà thơ đã diễn tả sinh động sự dằn vặt để nhận thức, để tìm thấy chỗ đứng ý nghĩa của mình: từ bỏ cuộc đời của cái tôi cá nhân tâm thường, vị kỉ , đến với cuộc đời chung sôi nổi, rộng lớn.

_Đại từ “Anh” được lặp lại nhiều lần : Anh đi chăng, Anh có nghe, Tàu anh gọi, Tâm hồn anh

→ “Anh” có thể là  một con người trong tưởng tượng, con người mặt trái của tác giả thuở trước đang chìm đắm trong triết lí siêu hình. Nhà thơ đã tự dằn vặt, tự nhận thức bằng hình thức phân thân, khách thể hoá chủ thể để tạo ra một cuộc đối thoại giả định.

Nếu ta hiểu « Vành trăng” biểu tượng cho thiên nhiên, cuộc sống lao động và cao hơn đó là  cái đẹp – đối tượng phản ánh của nghệ thuật thì hình ảnh “tàu đói”diễn tả èÂm hương chung của đoạn thơ là những câu hỏi tu từ riết róng tăng cấp (Anh đi chăng, anh có nghe, sao chửa đi), hối thúc giục giã cứ như xoáy vào chủ thể. Qua đó ta thấy được sự chuyển biến vừa mơ hồ vừa rõ rệt trong lòng nhà thơ.

→Nhà thơ tự hỏi mình nhưng cũng là đang hỏi lớp người như mình. Và đằng sau nhưng câu hỏi hối thúc ấy là  những câu trả lời mang thế đối lập giữa phê phán và mời gọi

Và cuối cùng là sự nhận thúc sâu sắc :

 _        Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Cuộc kháng chiến trường kì gian khổ đã kết thúc thắng lợi, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng cuộc sống mới đang rất cần sự đóng góp của mọi người. Cuộc sống lớn đó là cội nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật. Song nghệ thuật không thể nảy sinh khi người nghệ sĩ không mở rông hồn mình để đón nhận tất cả những vang động của cuộc đời. Từ sự chiêm nghiệm về cuộc đời thơ của mình, Chế Lan Viên đã đưa raèlời khuyên đầy tâm huyết : Hãy đi ra khỏi cái cô đơn chật hẹp của mình mà hoà nhập với mọi người. Hãy vượt ra khỏi chân trời của cái tôi nhỏ bé để đến với chân trời của tất cả. Đi theo con đường ấy có thể

_          Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

Có nghĩa làèmình tìm được chính mình trong cuộc sống rộng lớn của nhân dân, tìm thấy nghệ thuật chân chính Và như thế, ở chương khúc một là

→sự trăn trở để nhận thức, để lấy đà cho con tàu tâm hồn trước giờ lăn bánh vào cuộc hành trình lớn lao rất đỗi thiêng liêng này.

(b / Hoài niệm – 9 khổ tiếp theo)

Khúc hoài niệm chiếm tới 9 khổ thơ giữa. Cội nguồn sâu xa của khát vọng lên đường là những kỉ niệm kháng chiến. Đang sống trong không khí của miền Bắc hoà bình với nhịp độ lao động khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh, cả miền Bắc như một con tàu đang chuyển bánh tới những vùng đất mới, nhà thơ bỗng bồn chồn rạo rực nhớ về quá khứ,

*/ Nhớ về những năm tháng gian lao nhưng đầy kiêu hãnh

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hung
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân.

Ôi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương.
             

_ Ôi là một tiếng gọi thân thương trìu mến làm cho giọng thơ trở nên trầm lắng như chìm sâu vào kỉ niệm

_ Tây Bắc được lặp lại 2 lần vừa tha thiết vừa tự hào. Nhà thơ gọi Tây Bắc là xứ thiêng liêng, là vùng đất của anh hùng bởi Tây Bắc là nơi biết bao xương máu con người đã đổ xuống, là vùng đất khai sinh ra nguồn cảm hứng cho thơ ca nghệ thuật trong đó có “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên. Nhà thơ còn tự hào gọi Tây Bắc là ngọn lửa,

_                                              Ôi Kháng chiến 10 năm như ngọn lửa

                                               Nghìn năm sau  còn đủ sức soi đường

 Một ngọn lửa cháy trong 10 năm nhưng cái đặc biệt và kì diệu là nó có sức toả sáng đến nghìn năm. èCách so sánh tương phản nhằm khẳng định sức mạnh của cuộc kháng chiến, đó là sức mạnh của sự đoàn kết của toàn dân tộc, là tình cảm yêu nước là ý chí kiên cường, là cuộc đấu tranh nhân dân, đem lại vinh quang cho dân tộc. Sự so sánh tương phản ấy không chỉ khẳng định sức mạnh của cuộc kháng chiến, mà qua đó ta còn thấy

                                     → tấm lòng thành kính ngưỡng mộ và lòng biết ơn của nhà thơ đối với kháng chiến đối với cách mạng.

Bởi ngọn lửa kháng chiến ấy là nơi thử vàng góp phần tôi luyện bao thế hệ Hồ Chí Minh và toả sáng cho cả những thế hệ nối tiếp sau. Tầm vóc của mỗi con người cũng như tầm vóc của cả dân tộc đều được lớn lên từ ngọn lửa đó. Và nó vẫn tiếp tục toả sáng trên hành trình của đất nước hôm nay và mai sau. Lịch sử không bao giờ lặp lại, nhưng những gì được gọi là truyền thống thì không bao giò mất đi mà tự nó còn tạo thêm sức mạnh mới cho sự vươn lên của dân tộc. Và hơn ai hết, chính nhà thơ cũng đã được cách mạng và kháng chiến hồi sinh đưa ông từ tinh cầu giá lạnh trơ trọi cuối trời xa trở về với nhân dân , với cuộc đời.

Con đường nhà thơ đi tới còn nhiều chông gai, ông cần phải vượt nữa, vượt lên trên cả chính mình để trở về với cội nguồn. Và trên con đường gian khổ ấy,

*/ Nhà thơ cảm nhận được nhân dân, đất nước là Mẹ, là điểm tựa của mình

              Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

              Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương

Trong quan hệ ở đời có gì gắn bó sâu sắc hơn tình mẫu tử, bởi nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nhưng

_ Mẹ ở đây là ai ? Có thể là mế, là anh, là em, à là những người từng cưu mang, từng đồng cam cộng khổ. Mẹ là Tây Bắc, là nhân dân, là đất nước. Mẹ là bà mẹ Tổ Quốc muôn quí ngàn yêu. Với biện phápè so sánh ẩn dụ như thế Chế Lan Viên đã nói lên được mối quan hệ gắn bó ruột thịt sâu nặng của nhà thơ với Tây Bắc, với nhân dân , với đất nước.

Không chỉ có vậy, một từ « Mẹ » việt hoa với định ngữ « yêu thương » phía sau, một từ « cho » ở phía trước và một từ « về » gần gũi ấm cúng đã biến

ècâu thơ thành một lời cầu xin chân thành “Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương”. Câu thơ giản dị mà chứa đựng nỗi khát khao cháy bỏng được về với Mẹ, với nhân dân với Tây Bắc, với đất nước được sống giữa cuộc sống sôi động khác xa với cuộc sống chật hẹp nơi đô thành

*/ Và về với nhân dân, với Tây Bắc với đất nước đó là niềm vui lớn lao, sự hồi sinh lớn lao :

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón riêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói long gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Nhân dân là suối mát mùa xuân đón bày nai đói khát trở về chốn cũ yêu thương, là hơi ấm mùa xuân đem lại màu xanh và hương mật cho cỏ. Là tiết trời ấm áp cho chim én sánh đôi kết bạn, là dòng sữa ngọt lành cho bé thơ đói lòng, là cánh tay nhẹ đưa nôi đem lại giấc ngủ say. Còn nhà thơ tự ví mình là chim én là nai là cỏ, là trẻ thơ, là chiếc nôi. Đó phải chăng là thái độ khiêm tốn của tác giả khi đứng trước sự vĩ đại của nhân dân.

_ Năm hình ảnh so sánh liên tiếp vừa có sự hoà hợp giữa nhu cầu và khát vọng của bản thân (cái này là sự sống cho cái kia và ngược lại) để ècụ thể hoá, hình tượng hoá niềm vui, niềm hạnh phúc to lớn khi gặp lại nhân dân, gặp cội nguồn của sự sống và hạnh phúc.  Gặp lại nhân dân chính là để soi lại lòng mình như nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói:

Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi,

Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

Của triệu người yêu dấu gian lao

 Về lại với nhân dân không chỉ là niềm vui hạnh phúc mà con là sự hồi sinh là lẽ tự nhiên phù hợp với qui luật.

Nhưng nhân dân ở đây là ai ?

Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư.

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đâu, mế thức một mùa dài.
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

 

_Nhân dân đó là anh con với chiếc áo nâu suốt một đời vá rách, đêm cuối cùng anh cởi lại cho con; là em con thằng em liên lạc, Rừng thưa em băng rừng rậm em chờ; là bà mế già lửa hồng soi tóc bạc, Năm con đau mế thức một mùa dài. èNhân dân không còn là khái niệm trừu tượng chung chung. Mà là những con người cụ thể  gần gũi và xiết bao thương mến. Họ là những con người tiêu biểu cho sự cưu mang đùm bọc đối với kháng chiến

Cụm từ

_ “Con nhớ” → điệp ngữ được luyến láy, khiến cho khổ thơ như chồng chất như ăm ắp những kỉ niệm về nhân dân của nhà thơ. Thêm vào đó là cách xưng hô của chủ thể trữ tình

_“con”→ thể hiện một tình cảm thân tình ruột thịt với những con người từng gắn bó mật thiết với mình trong kháng chiến.

Tập trung tình cảm nhiều nhất đó chính là hình ảnh người mẹ nuôi đã gắn bó với nhà thơ trong những năm tháng dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh:

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Hình ảnh gợi cho ta nhớ đến người mẹ trong thơ Tố Hữu :

“Con đã về đây ơi mẹ Tơm

Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm

Cho con cho Đảng ngày xưa ấy

Không sợ tù gông chấp súng gươm”

 Người mẹ của Chế Lan Viên hiện ra thật đẹp, thật lãng mạn mà cũng rất đỗi hào hùng “lửa hồng soi tóc bạc”. “Lửa hồng” là ngọn lửa trong bếp của mẹ hay  đó  là ngọn lửa yêu thương của tình mẹ hiền miền núi – người đã dành rất nhiều tình cảm với nhà thơ. Chính vì vậy“trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. Nhà thơ đã sử dụng rất nhiều những từ ngữ chỉ sự gắn bó “một mùa dài”, “trọn đời”, “nhớ mãi”,… Đó chính là những từ ngữ thể hiện quan hệ gắn bó không thể tách rời giữa cái cá nhân và cái cộng đồng.:

Bốn khổ thơ trên: Khổ một tập trung thể hiện niềm vui của nhà thơ khi trở về với nhân dân. Ba khổ thơ tiếp theo cụ thể hóa hình ảnh nhân dân. Để từ đó làm bừng sáng  sự giác ngộ một chân lí đời sống và cũng là chân lí của nghệ thuật : Phải trở về thuỷ chung gắn bó với nhân dân. Tổ Quốc và nhân dân đã hồi sinh cho một hồn thơ đã từng một thời giam mình trong cái tôi cô đơn đóng khép

Nhớ người rồi nhớ đến cảnh. Người lính Tây Tiến “nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”, người cán bộ về xuôi nhớ Việt Bắc đã “nhớ từng rừng nứa bờ tre”, còn Chế Lan Viên nhớ Tây Bắc với nỗi nhớ “đã hoá tâm hồn”.

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ                                     Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương                                       Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn

Bao năm tháng qua đi, nhưng núi rừng, bản làng Tây Bắc vẫn đầy vơi trong lòng.

_“Bản sương giăng” và “Đèo mây phủ” gợi ra cảnh núi rừng mịt mù xa xôi nghìn trùng cách trở .

_Hai từ Nhớ ngắt câu thơ ra thành hai vế tiểu đối, tạo cho câu thơ âm hưởng như một điệp khúc và gợi tả một cái tôi, một nhân vật trữ tình đang chìm đắm trong một nỗi nhớ triền miên. Kỷ niệm này chưa mờ đi, kỷ niệm khác đã trỗi dậy .

 Những kỷ niệm đẹp về một thời máu lửa đâu  dễ quên :

_ “Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương”èNhà thơ tự hỏi lòng mình nhưng cũng là để khẳng định mình , đo yêu thương tình nghĩa trong lòng mình. Và những cảm xúc ấy đã được nâng lên thành những suy ngẫm, những chiêm nghiệm giàu sức khái quát:

          “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

            Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn

Câu thơ là sự đúc kêt về một qui luật nhân sinh, một sự kỳ diệu của tâm hồn.

+ Khi ta ở nghĩa là khi ta èđang sống trong hiện tai, thì hiện tại dường như chưa cho chúng ta thấy tình cảm thực sự của mình. Thậm chí, ta tưởng như miền đất ta đang sống cũng chỉ như bao nhiêu miền đất khác , chỉ là nơi đất ở đất để mưu sinh để tồn tại mà thôi.Phải đến khi vì một lý do nào đó

+   Khi ta đi è ta phải từ giã miền đất ấy,

quãng đời sống ở đấy bỗng trở thành quá khứ, miền đất từng cưu mang ta lùi lại phía sau lưng, bấy giờ ta mới hiểu. Nhìn vào lòng ta, ta mới chợt nhận ra :

+ Đất bỗng hoá tâm hồn Chính ta đã gắn bó với miền đất này tự lúc nào ta cũng không hay. Tình cảm cứ âm thầm hình thành, âm thầm bồi đắp mà ta không biết. Phải đến lúc này ta mới nhìn rõ hơn bao giờ hết và tình cảm đã làm nên một điều kỳ diệu : nó khiến cho “đất đã hoá tâm hồn”. Mảnh đất đã cưu mang che chở ta nuôi dưỡng, gắn bó máu thịt với ta từng ngày. Giờ đây èmảnh đất ấy mang tâm hồn của cố nhân, nó trở thành tâm hồn , một phần cuộc đời ta là hành trang tinh thần không thể thiếu của ta. Ta không thể hình dung đầy đủ về cuộc đời mình nếu thiếu đi những năm tháng sống trên mảnh đất âý.

→Câu thơ được viết theo một lối tư duy, đúc kết một quy luật nhân sinh

Nó không chỉ đúng với một nơi, một thời mà đúng với hết thảy con người trên thế gian này.

Đang triền miên trong suy tưởng về đất nước quê hương, mạch thơ bỗng chuyển đột ngột sang một rung cảm khác, một suy tưởng khác :

_ Anh nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Nhớ anh, nhớ mế, nhớ chính mình, rồi cuối cùng mới là nhớ đến người yêu. Không lẽ đây là nỗi nhớ sau cùng lại là nỗi nhớ bỗng đến, một nỗi nhớ thoáng qua không định trước ?

Thực ra không phải như vậy, Nhà thơ muốn tách nỗi nhớ em riêng ra khỏi hệ thống nỗi nhớ về quê hương đất nước, để dành trọn cho em một góc con tim.

Bản chất của mùa đông là giá rét. Có mùa đông nào lại không có giá rét. Nếu mùa đông đang chờ đợi giá rét thì anh đang chờ đợi chính em đây. Và tình yêu của anh với em như cánh kiến hoa vàng gắn bó thắm thiết và lấp lánh sắc màu. Nhưng như thế chưa đủ, tình yêu của anh và em còn như xuân đến chim rừng lông trở biếc, sinh sôi nảy nở, đơm hoa kết trái hạnh phúc

Như vậy nhà thơ đã sử dụng liên tiếp những hình ảnh so sánh ẩn dụ, gắn bó khăng khít với nhau, cái này là sự sống của cái kia. Cái kia là điều kiện sống của cái này để nêu bật một tình yêu đẹp giữa anh và em. Đó là sự gắn bó yêu thương giữa hai trái tim, hai tâm hồn như một qui luật diệu kì của thiên nhiên của sự sống.

Đất lành chim đậu, con người cũng vậy, luôn tìm nơi yên ổn thanh bình để sinh sống làm ăn. Nơi đâu có tình yêu, nơi đó có sự sống. Tình yêu làm cuộc sống trở nên gắn bó thân thương hơn. Trên cơ sở đó nhà thơ đúc kết :

                Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

_ Chữ Hoá như một  nhãn tự thể hiện sự biến đổi diệu kì từ lượng ( đất lạ ) thành chất ( là quê hương ) mà yếu tố quyết định là tình yêu

Câu thơ nhẹ nhàng giản dị như một câu hát của một trái tim nhưng lại chứa đựng một chân lí diệu kì. Không chỉ yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình mà tâm hồn nhà thơ còn mở rộng ra đến mọi miền quê. Đến đây đoạn thơ như  được hoà  vào dòng cảm xúc chung của toàn bài. Bởi tình yêu đẹp không chỉ giới hạn trong tình yêu đôi lứa mà nó còn mở rộng với tình yêu quê hương đất nước, nhân dân

(c/ Bốn khổ cuối : Khúc hát lên đường)

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi ?

Tình em đang mong tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

 

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

 

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi người là mẹ của hồn thơ

Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa

Nay trở về ta lấy lại vàng ta

 

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi dêm khuya không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.

Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi “Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?” thể hiện sự giục giã lên đường trong tâm hồn nhà thơ. Nói như lời của một cố tổng thống Mỹ “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc”. Câu hỏi đó cũng chính là vẻ đẹp của cái tôi cá nhân, cái tôi của nhà văn bước ra khỏi cuộc đời chật chội tù hẹp của đời mình để đến với cuộc sống mới, cuộc sống của nhân dân. Những từ ngữ như “tình em đang mong,tình mẹ đang chờ”, “mắt ta thèm” đã làm cho đoạn thơ một nhịp điệu dồn dập, âm điệu rộn rang đầy phấn chấn, say mê. Đặc biệt là cách nói : “Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến”. “Mùa nhân dân” cho thấy niềm vui và khát vọng mạnh liệt của tác giả khi tìm về với  cội nguồn bởi cội nguồn chính là sự sống, là nguồn thơ, nguồn cảm hứng mãnh liệt.

“Tây Bắc ơi người là mẹ của hồn thơ”

Và không chỉ khát vọng đi tìm nguồn thơ, hồn thơ mà tác giả muốn lấy lại “vàng ta”, lấy lại những giá trị tinh thần, đem tình yêu của mình, khát vọng của mình vun đắp, xây đắp cho Tây Bắc trong đống tro tàn sau chiến tranh:

“Chúng muốn đốt ta thành tro bụi

Ta hóa vàng nhân phẩm lương tri

Chúng muốn ta bán mình ô nhục

Ta làm sen thơm ngát giữa đầm” ( Tố Hữu )

Khổ thơ cuối khép lại bằng hình ảnh mang tính biểu tượng thể hiện  tình yêu của nhà thơ với Tây Bắc, với “mùa nhân dân”.Sự tỉnh táo của lí trí ở phần đầu nhường chỗ cho cảm giác đa mê ngây ngất. Đến giây phút này thì con tàu mới thực sự trở thành khát vọng sống, khát vọng lên đường đến Tây Bắc, hết lòng vì Tổ quốc “Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”. Bây giờ con tàu không “đói vành trăng” nữa mà trở thành “con tàu mộng tưởng” của ước mơ, khát vọng. Đặc biệt, con tàu “mỗi đêm khuya  « uống một vầng trăng” tượng trưng cho vẻ đẹp Tây Bắc và nhân dân. Đó cũng là vầng trăng của thi ca.“Mặt hồng em” là ẩn dụ nói về hiện thực đời sống thể hiện sự thành công ban đầu trong xây dựng và đổi mới của Tây Bắc . Đồng thời đó cũng chính là mùa bội thu  của  thi ca nghệ thuật. Khổ thơ cuối thể hiện một niềm tin về lòng yêu Tổ quốc và nhân dân trong chính bản thân mình. Đây cũng chính là vẻ đẹp của cái tôi nhân dân mang khát vọng lớn, sống hòa mình với cộng đồng.

– Hình ảnh phong phú, biến hoá sáng tạo chủ yếu là những hình ảnh biểu tượng và ẩn dụ: Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào, vàng ta đau trong lửa, vầng trăng, Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.

– Cách láy lại và mở rộng một hình ảnh, từ ngữ của câu cuối khổ trên xuống câu đầu khổ dưới (Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga/ Mắt ta nhớ mặt người; Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao /Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ) làm khổ thơ liền mạch, Âm hưởng sôi nổi, dồn dập, trùng điệp lôi cuốn:

Tiếng gọi của đất nước, của nhân dân, của đời sống đã thành sự thôi thúc bên trong, thành lời giục giã.

III / KẾT LUẬN

THCT thể hiện tập trung phong cách nghệ thuật Chế Viên : tài sáng tạo hình ảnh, sử dụng tương phản đối lập và hàng loạt câu hỏi tu từ đẻ biện luận làm cho ý tương chủ đề được thể hiện sâu sắc. Giọng thơ đa thanh biến hoá càng về cuối càng rộn rã như khúc hát. Nét đặc sắc nhất là nhà thơ đã viết được một số câu thơ rất hay kết hợp chặt chẽ giữa triết luận với cảm xúc giữa trí tuệ và hình tượng. Chế Lan Viên đã nêu cho chúng ta một ý tưởng đẹp : Hãy sống đẹp, sống có hoài bão có khát vọng như con tàu vỗ cánh bay cao bay xa làm nên sự nghiệp lớn

 

 

 

 

 

Mời bạn tham khảo

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: