Phía trước là chân trời

ÔN VIỆT BẮC


VIỆT BẮC – TÁC GIẢ TỐ HỮU ( PDF – Clik )

VIỆT BẮC – TÁC GIẢ TỐ HỮU

A/ Tác giả.

I/ Tiểu sử.

–         Nguyễn Kim Thành 4/10/1920, Huế.

–         Ông thân sinh học chữ Hán, ham thơ, thích sưu tầm ca dao tục ngữ ® từ nhỏ đã được dạy làm thơ theo lối cổ.

–         Mẹ: con nhà nho, thuộc nhiều ca dao, tục ngữ.

–         Huế: quê hương có ảnh hưởng sâu sắc đến hồn thơ của ông.

–         1936, giác ngộ lý tưởng cách mạng. 1938, gia nhập Đảng.

–         4/1939 bị bắt và bị giam qua nhiều nhà lao.

–         3 / 1942 ông vượt ngục Đắc Lay tìm ra Thanh Hoá tiếp tục hoạt động.

–         8 / 1945 làm chủ tịch uỷ ban khởi nghĩa ở Huế

–         Kháng chiến bùng nổ, ông lên Việt Bắc công tác ở cơ quan trung ương Đảng đặc trách về văn hoá văn nghệ.

–         Sau đó ông luôn giữ những cuơng vị chủ yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước. Từng làm Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam,  phó chủ tịch hội đồng Bộ trưởng

Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 _ 1996

II/ Con đường thơ :Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng

1/ Chặng đường (1937 – 1946) với tập Từ ấy

_ Mười năm đầu làm thơ cũng là 10 năm đầu tham gia cách mạng

_ Đó là tiếng reo vui của một tâm hồn thanh niên khao khát lẽ sống, bắt gặp lý tưởng cao đẹp và hăng hái quyết tâm phấn đấu hi sinh vì lý tưởng cao đẹp ấy với tinh thần lạc quan.

– “T y” gồm 3 phần :

  a. Máu lửa (1937 – 1939):

– Sáng tác trong thời kỳ Mặt trận dân chủ.

– Nội dung:

 + Cảm thông với thân phận những người nghèo khổ 

 + Khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai.

   b. Xiềng xích (1939-1942):

  – Sáng tác trong các nhà lao ở Trung Bộ và Tây Nguyên.

– Nội dung:

+ Tâm tư của một người chiến sĩ trẻ tuổi tha thiết yêu đời và khát khao tự do và hành động.

+ ý chí kiên cường đấu tranh của người chiến sĩ CM ngay trong nhà tù thực dân.

c. Giải phóng (1942 – 1946):

– Sáng tác từ khi vượt ngục cho đến thời kỳ giải phóng dân tộc

– Nội dung:

+ Ngợi ca thắng lợi của CM, và độc lập tự do của đất nước .

+ Khẳng định niềm tin vào chế độ mới

Những bài thơ tiêu biểu: T y, Tâm tư trong tù, Bà má Hu Giang,…

_ Giọng đIêu thơ sôi nổi lôi cuốn và lãng mạn.

2/ Chặng đường (1947 – 1954) với tập Việt Bắc

_  Tập thơ Vit Bc là một trong những thành tựu xuất sắc của VH kháng chiến chống Pháp.

   Sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp

_ Viết về quần chúng công – nông – binh và quê hương Việt Bắc.Biểu dương những con người bình thường nhưng đã làm được những việc phi thường. đề cập đến những tình cảm lớn của con người Việt Nam kháng chiến. (Ca ngợi những con người kháng chiến: Đảng và Bác Hồ, anh vệ quốc quân, bà mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc… Nhiều tình cảm sâu đậm được thể hiện: tình quân dân, miền xuôi và miền ngược, tình yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản,….  )

_ Hình thức nghệ thuật của tập thơ mang đậm màu sắc dân tộc và đại chúng. Giọng điệu thơ mang âm hưởng sử thi.

– Tác phẩm tiêu biểu: Vit Bc, Hoan hô chiến sĩ  Đin Biên, Phá đường,.

3/ Chặng đường 1955 – 1961 với tập Gió lộng

_ Viết về công cuộc xây dựng  chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam.

_ Nghệ thuật biểu hiện già dặn nhuần nhuyễn hơn trong cảm hứng lãng mạn phơi phới lạc quan và thắm thiết ân tình. Tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với cái tôi trữ tình đa dạng.

4/ Chặng đường từ 1962 – 1977 với tập Ra trận(1962 – 1971),Việt Nam máu và hoa(1972- 1977)

_ Sáng tác trong những năm kháng chiến chống Mĩ quyết liệt hào hùng cho tới ngày thắng lợi

_ Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cổ vũ cuộc chiến đấu chống mĩ cứu nước ở cả hai miền Nam Bắc.

  + Ra trn: bản hùng ca về miền Nam, những hinh ảnh tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc (anh giải phóng quân, người thợ điện , anh công nhân, cụ dân quân…)

  + Máu và hoa:

    o Ghi lại chặng đường cách mạng đầy gian khổ

    o Niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của quê hương, con người Việt Nam.

– Cổ vũ, ca ngợi chiến đấu, mang đậm tinh thời sự.

– Tác phẩm tiờu biểu: Bài ca Xuân 68, Kính gi c Nguyn Du, Theo chân Bác, Nước non ngàn dm,…

5/ Từ 1978 đến nay “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999):

Trữ tình chính trị vẫn là nét ổn định trong thơ Tố Hữu nhưng không còn là nét nổi trội duy nhất mà thiên về chiem nghiệm cuộc sống, lẽ đời. Giọng thơ trầm lắng hơn

 → Nim tin vào lý tưởng và con đường cách mng, tin vào ch nhân luôn to sáng mi hn người.

III/ Phong cách thơ Tố Hữu:

1/ Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản

_ Ông trước hết là một chiến sĩ – thi sĩ, làm thơ là để phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ lí tưởng của Đảng

2/  Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng trữ tình chính trị:

_ Là sự tiếp tục và kế thừa truyền thống thơ cách mạng của những nhà yêu nước đầu thế kỉ XX

_ Các vấn đề và sự kiện chính trị quan trọng của đất nước đã trở thành đề tài và khơi gợi cảm hứng nghệ thuật thực sự.

_ Nội dung  trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

+ Khuynh hướng sử thi:

       Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu thường nhân danh cộng đồng, nhân danh Đảng, dân tộc.

       – Nhân vật trữ tình thường là những người tập trung những phẩm chất của giai cấp của cộng đồng được nâng lên thành hình tượng anh hùng mang tầm vóc thời đại.

+ Cảm hứng lãng mạn:

       Thơ luôn hướng tới tương lai.

       Khơi gợi niềm vui và lòng tin tưởng, sự say mê với con đường cách mạng

       Nghệ thuật chú trọng tác động đến tình cảm cảm xúc của ngươì đọc, khai        thác giá trị gợi cảm của nhạc điệu thơ

3/ Thơ Tố Hữu là giọng điêu tâm tình, ngọt ngào tha thiết.

4/ Thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc: thể thơ, lối biểu đạt, cách so sánh, hình ảnh quen thuộc

 VIỆT BẮC – TÁC PHẨM ( NHỮNG ĐOẠN CẦN LƯU Ý )

ĐỀ 1/ PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU:

     “ Mình về mình có nhớ ta                     Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.          Ve kêu rừng phách đổ vàng

      Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi          Nhớ cô em gái hái măng một mình

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.           Rừng thu trăng rọi hòa bình

      Ngày xuân mơ nở trắng rừng          Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

                                  (Trích Việt Bắc – Tố Hữu )

→Đoạn thơ trên lời của người đi đối với kẻ ở ; của cán bộ miền xuôi với người Việt Bắc. Và cũng qua đoạn thơ trên, tỏc giả dó làm nổi bật vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc qua nỗi nhớ tha thiết sâu nặng(bức tranh tứ bình

I/ Mở bài : 

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

_ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp nói chung. Trong đó đoạn thơ:      “ Mình về mình có nhớ ta 

                     …….   

                      Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

đã phản ánh sinh động vẻ đẹp của thiên nhien và con người Việt Bắc qua nỗi nhơ da diết cồn cào của tác giả

II/ Thân bài            

1/ (Xuất xứ chủ đề) Bài thơ được làm vào tháng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này.

 2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước) Cả bài thơ tràn ngập nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong kẻ ở và người đi trong câu hỏi và trong cả lời đáp. Nỗi nhớ cứ trở đi trở lại cồn cào da diết. Dường như thấu hiểu nỗi lũng người ở lại, người ra đi không chỉ khẳng định long chung thủy mà cũn thể hiện nỗi nhơ da diết qua thiên nhiên và con người Việt Bắc

3/ ( Phan tích chi tiết)

a/ Bao trùm đoạn thơ là nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến.

_ Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối của đoạn thông qua điệp từ nhớ.

_ Đặc biệt cụm từ “ta về” được láy lại hai lần ở đầu câu như khơi gợi, như nhắc khéo: mình có nhớ ta không. Riêng ta, ta vẫn nhớ người lắm.

_ Cách xưng hô Mình – ta thân thiết, ngọt ngào dễ thương à cuộc chia tay giữa cán bộ kháng chiến với người Việt Bắc, giữa miền xuôi và miền ngược đã trở thành cuộc giã bạn đầy lưu luyến.

b/ Nhưng có lẽ lắng đọng nhất trong nỗi nhớ, trong hoài niệm của tác giả đó là hoa và người: thiên nhiên và con người Việt Bắc.

*/ Thiên nhiên.

–         Bốn mùa đất nước hiện lên với những nét độc đáo, những hương vị riêng

+ Mùa Đông: rừng xanh biếc – bông chuối đỏ tươi – ánh nắng vàng rực rỡ.

+ Mùa Xuân: khu rừng bừng sáng bởi màu trắng tinh khiết của hoa mơ.

+ Hè về: ve kêu – rừng phách đổ vàng.

+ Thu đến: thiên nhiên được thắp sáng bởi màu vàng dịu của ánh trăng.

è Bằng những hình ảnh, những chi tiết chọn lọc, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên với những màu sắc chói lọi rực rỡ xanh, đỏ, vàng, trắng. Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan người đọc, khiến ta có cảm giác như đang được chiêm ngưỡng một bức tranh thiên nhiên sống động của núi rừng Việt Bắc.

–         Thiên nhiên ấy còn được miêu tả theo chiều dọc của thời gian.

+ Buổi sáng: mơ nở trắng rừng.

+ Buổi trưa: ánh nắng vàng rực rỡ.

+ Khi về đêm trăng rọi bàng bạc khắp nơi.

è Núi rừng Việt Bắc như một sinh thể đang biến đỏi trong từng khoảnh khắc.

*/ Phong cảnh tuyệt vời, đáng yêu ấy càng trở nên hài hoà sinh động hẳn lên khi xuất hiện con người.

–         Mỗi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người à cảnh và người đan xen hài hoà, con người là đoá hoa đẹp nhất có hương thơm ngọt ngào.

–         Con người gắn với công việc lao động

+ Kẻ dao gài thắt lưng      

+ Người đan nón 

+ Cô em gái hái măng một mình và tiếng hát của ai đó vang lên giữa rừng núi xôn xao.

_ Họ là những con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời à hình ảnh con người là nét đẹp chủ đạo của bức tranh Việt Bắc, chính họ đã thắp sáng thiên nhiên làm thiên nhiên thêm rực rỡ chính họ đã gợi lên được nỗi nhớ da diết cho người ra đi.

→ ta cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn con người Việt Bắc,

→  Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, Tố Hữu thể hiện một tình cảm thiết tha ân tình sâu nặng và…

III/ Kết luận

 

ĐỀ 2/ PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ SAU:

      “ Những đường Việt Bắc của ta                   Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đêm đêm rầm rập như là đất rung               Đèn pha bật sang như ngày mai lên”

       Quân đi điệp điệp trùng trùng                    Tin vui chiến thắng trăm miền

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan            Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

       Dân công đỏ đuốc từng đoàn                      Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay            Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng

                                    (Trớch Việt Bắc – Tố Hữu )

→Nhà thơ nhớ đến những nẻo đường Việt Bắc, những nẻo đường hành quân chiến dịch.

I/ Mở bài

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. _ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu núi riêng và thơ ca chống Pháp núi chung. Trong đó để lị ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc có lẽ là đoạn thơ Việt Bắc ra trận chiến đấu và chiến thắng      “ Những đường Việt Bắc của ta 

                     …….   

                      Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng”

II/ Thân bài            

1/ (Xuất xứ chủ đề)

Bài thơ được làm vào thỏng 10.1954, khi TW Đảng và Chớnh phủ cựng cỏn bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này.

 2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước)

Nếu như ở những đoạn thơ trước, Tố Hữu mang đến cho người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, của tình nghĩa quân dân qua những kỷ niệm ngọt ngào gắn bó. Thì ở đoạn thơ này, nhà thơ đó đột ngột chuyển hướng. Không còn những dòng thơ ngọt ngào như ca dao nữa mà nó đó mang âm hưởng của cảm hứng sử thi hào hùng : Một Việt Bắc ra trận, một dân tộc ra trận quyết chiến và quyết thắng

3/ ( Phân tích chi tiết)

a/ Việt bắc ra trận với  hào khí của bốn nghỡn năm lịch sử

Những đường Việt Bắc của ta

                                 Đêm đêm rầm rập như là đất rung.

_ Đêm đêm – rầm rậpè những từ láy kết hợp với hình ảnh so sánh cường điệu như là đất rung èkhông chỉ gợi ra không gian, thời gian của cuộc kháng chiến mà nó còn gợi ra thật hay, thật hào hùng âm vang, sức mạnh của  cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩa 4000 năm của dân tộc.

Ấn tượng về sức mạnh của dân tộc cũn được gợi ra từ hình ảnh

_ “Những đường Việt Bắc của ta” →Hình ảnh thơ vừa mang ý nghĩa ta thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát: con đường đi lên kháng chiến và cách mạng, con đường dẫn tới thành công

Hình ảnh một đất nước trong kháng chiến, bỗng trở nên rực sáng và hào hùng hơn bởi

b/ những đoàn quân ra trận:

                                               Quân đi điệp điệp trùng trùng

                                          ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

_ Điệp điệp trùng trùng

Bộ đội ta trang bị vật chất còn thiếu thốn,, còn phải đội mũ nan đan bằng tre lợp vải nhưng đoàn quân điệp điệp trùng trùng chính là hình ảnh tượng trưng cho sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến

→Từ láy gợi sự đông đảo, người người lớp lớp như sóng cuộn tạo sức mạnh vô địch          

_ánh sao đầu súng    →     Hình ảnh thơ vừa thực vừa lãng mạn  

Có thể là ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép. Có thể là ánh sao của bầu trời Việt Bắc, cũng có thể ánh sao của lý tưởng chiến đấu vì độc lập tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận của anh bộ đội.

Tham gia vào cuộc kháng chiến, bên cạnh đội quân chủ lực còn có một bộ phận không thể thiếu, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng hào hùng của dân tộc ta, đó là

c/ Hình ảnh đoàn dân công phục vụ tiền tuyến :

        Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Buớc chân nát đá muôn tàn lửa bay

Những bó đuốc đỏ rực soi đường đã làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn. Ta có thể hình ở đó có đủ cả già trẻ trai gái, họ đến từ nhiều miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở gồng gánh, quyết tâm kiên cường vượt núi cao đèo dốc, đảm bảo sức mạnh vật chất cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng. Nên hình ảnh

_ Dân công đỏ đuốc  è tả thực, ngày là của giặc, đêm là của ta

_ Muôn tàn lửa bay  è Hình ảnh thơ thật đẹp, thật lãng mạn. Họ đi kháng chiến chẳng khác gì đi trong đêm hội hoa đăng .

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, là cuộc chiến tranh nhân dân, nó phát huy cao độ sức mạnh của cả dân tộc chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa :

_ Bước chân nát đá  è Mang âm hưởng ca dao, đó là bước chân của những con người  đạp bằng mọi chông gai để đi tới è   Âm hưởng sử thi

Ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng chiến thắng giòn giã. Những ngày đầu chỉ có vũ khí thô sơ, sau lực lượng ta càng thêm hùng hậu, phát triển thành những những binh đoàn, có pháo binh, có đoàn xe ra tiền tuyến.

d/ Hình ảnh đoàn xe ra hoả tuyến

                                       Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

                             Đèn  pha  bật  sáng  như  ngày  mai  lên.

_ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày  → Đó là những ngày đen tối, những khó khăn thiếu thốn của cách mạng và kháng chiến.

_ Đèn pha è đèn của đoàn xe kéo pháo của đoàn xe vận tải bật sáng phá tan những lớp sương mù, đẩy lùi những khó khăn tăm tối

_ Như ngày mai lên è bình minh chiến thắng.

Hai câu thơ tạo ra → tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng : Nếu câu trên khắc hoạ bóng đêm đen tối thăm thẳm gợi kiếp sống nô lệ của cả dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù thì câu dưới lại bừng lên ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng è để nêu bật xu thế chiến thắng tất yếu của dân tộc ta trước mọi kẻ thù hắc ám. Đồng thời khẳng định những ngày tươi sáng hạnh phúc  nhất định sẽ tới với dân tộc chúng ta

→Hình ảnh thơ vừa mang đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn, vừa có ý nghĩa tả thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng cho một tương lai tươi sáng của đất nước. Con đường Việt Bắc, con đường ra trận đầy máu lửa và chiến công cũng là con đường đi tới ngày mai huy hoàng.…..

e/    Bốn câu thơ cuối khép lại bằng niềm vui chiến thắng :

“Tin vui chiến thắng trăm miền …  Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Tố Hữu sử dụng bốn câu thơ để miêu tả không khí chiến thắng đang dồn dập trên khắp đất nước. Cũng là một thủ pháp liệt kê nhưng những địa danh ở đây không gắn với chữ “nhớ” như ở những dũng thơ mở đầu của đoạn mà gắn với những chữ “vui” để thấy tin vui đang như bay lên từ khắp trăm miền. Kết cấu của bốn câu thơ này cũng là một kết cấu khá chặt chẽ. Câu một là cảm xúc bao quát: “Tin vui chiến thắng trăm miền”, cũn ở cõu sau nhằm thể hiện sự lan toả của những tin vui khắp trăm miền ấy. Vỡ thế những địa danh liên tiếp xuất hiện gắn liền với các tin vui chiến thắng. Sự liệt kê các địa danh chiến thắng cũng chứa đựng những giá trị tư tưởng-nghệ thuật. Đó là sự sắp xếp nhằm làm nổi bật tin vui như bay đi trong một tốc độ “siêu tốc”. Vừa mới đó là Hòa Bình – Tây Bắc – Điện Biên, tiếp sau đó là Đồng Tháp (Nam Bộ), An Khê (Tây Nguyên), lại đó là Việt Bắc, đèo De núi Hồng.

III/ Kết luận      

Tóm lại, đoạn thơ đó rất thành công khi thể hiện một Việt Băc, một dân tộc ra trân, chiến đấu và chiến thắng niềm trong những ngày kháng chiến chống thực dân pháp gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng.  Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện: thể thơ lục bát truyền thống; ngôn ngữ sử thi hào hùng; hinh ảnh thơ giàu sức sống; nhịp thơ dồn dập, nhiều điệp từ, điệp ngữ… tất cả đó tạo nên một đoạn thơ hùng tráng về những ngày sục sôi đánh pháp. Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi mà sức sống mãnh liệt của thời đại ấy vẫn cũn rực lửa trong trái tim mỗi con người Việt Nam.

ĐÊ 3/ VIỆT BẮC TIÊU BIỂU CHO GIỌNG THƠ TÂM TÌNH NGỌT NGÀO, THA THIẾT VÀ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN GIÀU TÍNH DÂN TỘC CỦA THƠ TỐ HỮU. CHỨNG MINH QUA ĐOẠN TRÍCH VIỆT BẮC

1.     Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết.

  • Nói đến tình nghĩa cách mạng nhưng thi sĩ lại dùng giọng của tình thương, lời của ngọt ngào.

–         Bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên.

–         Lối xưng hô mình –  ta – kẻ đi người ở quấn quít bên nhau tuy hai mà một ® để bộc lộ đầy đủ tâm trạng ® tạo sự hô ứng đồng vọng.

  • Giọng thơ tâm tình ngọt ngào ấy tạo nên âm hưởng trữ tình sâu đậm của khúc hát ân tình cách mạng (những câu hỏi mở đầu của lời đối đáp như nhắn nhủ dãi bày): Mình về mình có nhớ ta, Mình đi có nhớ những ngày, Mình về rừng núi nhớ ai, Ta đi ta nhớ những ngày, Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi.

Có những nỗi nhớ da diết, sâu nặng:

     Nhớ gì như nhớ người yêu…bắp ngô.

2.     Nghệ thuật biểu hiện tính dân tộc.

  • Thể thơ: sử dụng thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, có sự biến hoá sáng tạo cho phù hợp với nội dung.

–         Có câu thiết tha sâu lắng: bốn câu mở đầu.

–         Có câu nhẹ nhàng thơ mộng: Nhớ gì như nhớ người yêu…bắp ngô.

–         Có đoạn hùng tráng như một khúc anh hùng ca: Những đường Việt Bắc…mai lên.

  • Hình ảnh thơ:

–         Sử dụng một cách tự nhiên và sáng tạo.

+ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ® Uống nước nhớ nguồn.

+ Bước chân nát đá… ® Trông cho chân cứng đá mềm.

–         Có hình ảnh được chắt lọc từ cuộc sống thực, cũng mang đậm tính dân tộc.

+ Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.

+ Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.

+ Thương nhau…đắp cùng.

  • Ngôn ngữ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhất trong cặp đại từ nhân xưng mình – ta và đại từ phiếm chỉ “ai”.

ĐỀ 4/ PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ SAU: 

    Mình đi có nhớ những ngày                        Mình đi, có nhớ những nhà

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù   Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

    Mình về, có nhớ chiến khu                          Mình về, có nhớ núi non

M/ cơm chấm muối, mối thự nặng vai ?      Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

    Mình về, rừng núi nhớ ai                             Mình đi, mình có nhớ mình

Trám bùi để rụng, m/mai để già.              Tõn Trào, Hồng Thái, mỏi đình, cây đa    

→                          Người ở lại  đã khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm :

I/ Mở bài

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. _ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu núi riêng và thơ ca chống Pháp núi chung. Trong đó để ạiị ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc có lẽ là đoạn thơ người Việt Bắc khơi dậy một quá vãng đầy kỉ niệm

                                          “ Mình đi có nhớ những ngày 

                                                       …….   

                                      Tân Trào hồng Thái mái đỡnh cõy đa”

II/ Thân bài            

1/ (Xuất xứ chủ đề) Bài thơ được làm vào tháng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ này.

2/ ( Khái quát ý của đoạn thơ trước) Nếu như ở những đoạn thơ trước, Người ra đi bâng khuâng bồn chồn, cầm tay nhau bịn rịn luyến lưu mà chẳng nói lên lời. Thì ở đoạn thơ này, người ở lại đã khơi dạy một quá vãng đầy kỉ niệm, nhằm một lần nữa khẳng định lòng chung thủy của mình.

3/ ( Phân tớch chi tiết)

cặp từ nhân xưng “mình – ta” được sử dụng sáng tạo và độc đáo thật phù hợp, thân thiết mà không sỗ sàng; kín đáo mà không xa vời tạo nên âm hưởng ngọt ngào tha thiết.. Nhưng

_ ta lúc này cũng được chuyển hóa thành mình “Mình đi mình lại nhớ mình”

→ Nhằm diễn tả tỉnh cảm gắn bó keo sơn tuy 2 mà là một, khăng khít không rời

Đó là tấm lòng của người ở lại. Còn người ra đi thì sao ?

–         Mười hai câu thơ tạo thành 6 câu hỏi

+ Có câu hỏi gợi nhớ hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt:

                      Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù.

+ Có câu hỏi gợi nhớ tới cảnh sinh hoạt thiếu thốn:

                     Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai.

+ Có câu hỏi lại như hỏi chính lòng mình:

 Mình về rừng núi nhớ ai

 Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Rừng núi nhớ hay đồng bào Việt Bắc nhớ. Và khi “ai” đó đi rồi thì trám bùi, măng mai còn có ý nghĩa gì nữa đây.

èBiện pháp nhân hoá kết hợp với đại từ phiếm chỉ ai càng tô đậm cảm giác cô đơn, trống vắng của kẻ ở khi phải chia tay.

 Và

+ Có câu hỏi lại gợi về những kỷ niệm của một thời cách mạng, một thời kháng chiến:                            Mình về có nhớ núi non

                        Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

                             Mình đi, mình có nhớ mình

                      Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa

Điều đáng lưu ý là trong một đoạn thơ ngắn mà 5 từ

+ Nhớ  được nhấn đi nhấn lại è Điệp từ thể hiện nỗi lòng tha thiết với những sắc thái khác nhau của người ở lại

Khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm : cay đắng ngọt bùi, gian nan vất vả, người ở lại muốn khẳng định với người ra đi một điều :

→Nét đẹp cao quý của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cực mà chân tình rộng mở, sắt son thuỷ chung với cách mạng, người cũng vậy mà thiên nhiên cũng vậy. Và đoạn thơ đã thể hiện được điều đó 

III/ Kết luận ….

 

Cảm nhận của em về tấm câu thơ đầu trong đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu

Posted by thaidung1611 on 11/05/2014

 ĐỀ 1: CẢM NHẬN CỦA EM VỀ ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU

Mình về mình có nhớ taahtmimg_20317

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi , nhìn song nhớ nguồn

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Aó chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

I/ MỞ BÀI: 

_  Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, là cờ đầu của nền thơ ca cỏch mạng Việt Nam. _ Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị:Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa…

_ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca chống Pháp núi chung. Bài thơ là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam. Toàn bộ bài thơ là một hoài niệm lớn, day dứt khôn nguôi được thể hiện qua hình thức đối đáp giữa  người ra đi và người ở lại :

Và đoạn thơ:      “ Mình về mình có nhớ ta 

                                           …

                                         tay nhau biết nói gì hôn nay”

Là một trong những đoạn tiêu biểu cho tình cảm ân nghĩa thủy chung đó

II/ THÂN BÀI            

1/ (Xuất xứ chủ đề) Bài thơ được làm vào thỏng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cỏn bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Lấy cảm hứng từ không khí của buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đó xúc động viết nên bài thơ này.

2/ ( Phân tích chi tiết)

_Bài thơ được cấu tạo theo lối đối đáp giao duyên của ca dao dân ca: Đối đáp giữa hai người yêu thương nhau, tình nghĩa mặn nồng nay phải chia tay nhau kẻ đi người ở. Cả bài thơ tràn ngập nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong kẻ ở và người đi trong câu hỏi và trong cả lời đáp. Nỗi nhớ cứ trở đi trở lại cồn cào da diết.

(a/ Bón câu đầu) Dường như  nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay, người ở lại lên tiếng trước, căn vặn người ra đi về tấm lòng chung thuỷ:

                                        Mình về mình có nhớ ta

                            Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

                                 Mình về mình có nhớ không

                             …Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Giọng thơ như tuôn chảy từ trong nguồn mạch của ca dao dân ca. Lối xưng hô

_ Mình _ ta  ngọt ngào tha thiết như tình yêu đôi lứa. Nhưng mình ở đây không ai khác chính là người ra đi, là cán bộ kháng chiến chuẩn bị về xuôi. Còn ta là người ở lại, là những người dân Việt Bắc ân tình chung thủy. “Mình về mình có nhớ ta”. Liệu mình – những người cán bộ chiến sĩ sau khi chiến thắng về chốn phồn hoa đô hội có còn nhớ đến đồng bào và mảnh đất Việt Bắc với những tháng năm gian khổ đã từng đùm bọc và che chở cho họ trước đây không.  Cách xưng hô “mình- ta” cứ như lời bày tỏ tình yêu đôi lứa trong dân gian Và Tố Hữu đã mượn cách nói thân mật ấy để lý giải cho mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ kháng chiến với nhân dân. Vì thế lời thơ không bị khô cứng mà ngọt ngào êm ái.

_ “Mười lăm năm ấy”, Con số vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa hư ảo : đó là mười lăm năm các mạng. mười lăm năm chiến khu Việt Bắc nhưng đồng thời cũng là mười lăm năm gắn bó thuỷ chung giữa cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc . Câu thơ mang dáng dấp một câu Kiều  – Những là rày ước mai ao – Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.

Cách dùng những từ ngữ gợi ý niệm về thời gian “mười lăm năm…” làm cho nỗi nhớ càng thêm da diết : Không biết mình còn nhớ hay đã quên, chứ ta thì ta không thể quên được những tháng năm ấy

Và cũng để rõ thêm tấm lòng của người ra đi, kẻ ở đã khéo gợi ra cảnh

_  Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

 Nghĩa tình giữa ta và mình bắt nguồn từ những lý lẽ hiển nhiên giống như đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc vậy. Liệu mình có giữ được tấm lòng chung thuỷ trước những cám dỗ mới của cuộc đời không? èĐó cũng chính là tâm trạng, là nỗi lòng băn khoăn  của “người ở lại”, của “ta”.   →  Cách liên tưởng so sánh trên không chỉ mở rộng  không gian của nỗi nhớ, mà còn làm cho kỷ niệm cứ như tuôn trào tầng tầng lớp lớp.      

→Các cặp hình ảnh “ cây-núi”; “sông-nguồn” cũng vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa ảo.Nó không chỉ gợi ra không gian núi rừng Việt Bắc với những nét riêng, đặc thù. Mà nó còn nói lên tình cảm chung thuỷ trong mối quan hệ cội nguồn : Cán bộ từ dân mà ra. Nhớ về nhân dân, như nhớ về cội nguồn

→Các từ “mình” “ta”, câu hỏi tu từ “Mình về mình có nhớ …” được láy lại 2 lần làm cho nỗi nhơ niềm thương cứ dâng lên mãi trong lòng của người đi và kẻ ở.

b/ Đáp lại sự băn khoăn của người ở lại là tiếng lòng của người ra đi.

       Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi.

áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Đại từ “ai” phiếm chỉ tạo nên một cõi mơ hồ, mông lung trong nỗi nhớ ( như cách bày tỏ trong ca dao : Ai về ai có nhớ ai…) Hoá ra người đi cũng cùng một tâm trạng, cùng một tình nghĩa chung thuỷ như bạn mình : Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi.

.-“Bâng khuâng, bồn chồn” là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… lẫn lộn cùng một lúc. Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10/1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnh nào ? Tác giả đã sử dụng một loạt những từ láy, những từ chỉ trạng thái tình cảm của người đang yêu để giãi bày tình cảm không nói lên lời của người ra đi cũng thuỷ chung tình nghĩa như tấm lòng người ở lại vậy.

 Một thời gắn bó, một thời thủy chung, nay ta và mình chia xa :“Áo chàm đưa buổi phân li.Áo chàm” không đơn thuần là chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi mà nó đã được hoán dụtrở thành biểu tượng cho nhân dân Việt Bắc thuỷ chung sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Nay kẻ đi người ở, hỏi sao không bồi hồi xúc động : “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.

– Câu thơ …”đầy tính chất biểu cảm . Nó gợi ra cảnh bịn rịn luyến lưu tay trong tay mà không nói lên lời của đôi trai gái yêu nhau để từ đó tác giả như khắc sâu thêm tình cảm gắn bó thắm thiết, thuỷ chung của người miền xuôi đối với người miền ngược.Biết nói gì không phải không có điều để giãi bày mà chính là vì có quá nhiều điều muốn nói mà không biết phải bắt đầu từ đâu, nên nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…Trong buổi chia ly, mặc dù chưa biết nói gì với kẻ ở lại nhưng thực ra người ra đi đã nói được rất nhiều điều. Bởi im lặng cũng là một thứ ngôn ngữ của tình cảm

+ Cách ngắt nhịp 3/3; 3/3/2 ở hai câu thơ cuối đoạn diễn tả mộc cách thân tình cái ngập ngừng , bịn rịn trong tâm trạng, trong cử chỉ của người đi kẻ ở.Kỷ vật trao rồi mà mà lòng vẫn quyến luyến không thể rời xa.

  III/ KẾT BÀI:

    –  Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc.

    – Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến.

     –Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với “Việt Bắc”.

 

 

 

 

                                                   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                    

 

 

 

 

ÔN-VIỆT-BẮC (W – Clik )

Mời bạn tham khảo

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: